Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm nhân thọ tại Rạch Giá - Nguyễn Hoài Trâm Anh

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm nhân thọ tại thành phố Rạch Giá, cung cấp cái nhìn sâu sắc cho thị trường bảo hiểm.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

2017

149
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu/ câu hỏi nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Phương pháp nghiên cứu

1.3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Giới thiệu về bảo hiểm nhân thọ

2.1.1. Định nghĩa bảo hiểm nhân thọ

2.1.2. Lịch sử ra đời

2.1.3. Phân loại bảo hiểm

2.1.4. Lợi ích của bảo hiểm nhân thọ

2.1.5. Nguyên tắc hoạt động

2.1.6. Vai trò bảo hiểm

2.2. Cơ sở lý thuyết chung về hành vi người tiêu dùng

2.2.1. Khái niệm về người tiêu dùng

2.2.2. Khái niệm về hành vi người tiêu dùng

2.2.3. Quá trình quyết định mua sắm của người tiêu dùng

2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

2.2.5. Các nghiên cứu có liên quan

2.2.6. Mô hình đề xuất

2.2.7. Mô hình nghiên cứu dự kiến và giả thuyết nghiên cứu

2.2.7.1. Mô hình nghiên cứu dự kiến
2.2.7.2. Giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp nghiên cứu

3.1.1. Thiết kế nghiên cứu

3.1.2. Nghiên cứu định tính

3.1.3. Nghiên cứu định lượng

3.1.4. Phương pháp chọn mẫu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG

4.1. Thống kê các biến nhân khẩu

4.1.1. Tình trạng hôn nhân

4.1.2. Trình độ học vấn

4.2. Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

4.3. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.3.1. Phân tích nhân tố - Biến độc lập

4.3.2. Phân tích nhân tố - Biến phụ thuộc

4.4. Phân tích hồi quy

4.4.1. Phân tích ma trận hệ số tương quan

4.4.2. Kiểm tra sự vi phạm các giả định hồi quy

4.4.2.1. Giả định liên hệ tuyến tính
4.4.2.2. Giả định về phân phối chuẩn của phần dư

4.5. Tóm tắt chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Đối với nhóm dịch vụ

5.2. Đối với nhóm rào cản

5.3. Đối với nhóm lợi ích doanh tiếng và nhóm chi tiêu tiết kiệm

5.4. Đối với nhóm ý kiến gia đình

5.4.1. Đối với Tp.

5.4.2. Đối với Công ty

5.4.3. Đối với nhân viên

5.4.4. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.5. Hướng nghiên cứu tiếp theo

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Bảng câu hỏi phỏng vấn chuyên gia

Phụ lục 2. Bảng câu hỏi phỏng vấn nhóm

Phụ lục 3. Tổng hợp ý kiến và danh sách phỏng vấn chuyên gia và nhóm

Phụ lục 4. Danh sách các thành viên tham gia thảo luận nhóm

Phụ lục 5. Bảng câu hỏi nghiên cứu

Phụ lục 6. Chạy Cronbach’s Alpha

Phụ lục 7. Chạy EFA cho biến phụ thuộc

Phụ lục 8. Chạy EFA cho biến độc lập

Phụ lục 9. Chạy hồi quy tương quan

Phụ lục 10. Thống kê mô tả các biến

Phụ lục 11. Thống kê mô tả các nhân tố

Phụ lục 12. Tổng quan đối tượng nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ là một sản phẩm tài chính quan trọng, giúp bảo vệ tài chính cho gia đình trong trường hợp không may xảy ra. Tuy nhiên, ý định mua bảo hiểm nhân thọ của người tiêu dùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp các công ty bảo hiểm phát triển sản phẩm và dịch vụ phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng.

1.1. Định nghĩa và vai trò của bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ là một hợp đồng giữa người mua và công ty bảo hiểm, trong đó công ty bảo hiểm cam kết chi trả một khoản tiền cho người thụ hưởng khi người được bảo hiểm qua đời hoặc sống đến một thời điểm nhất định. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ không chỉ là bảo vệ tài chính mà còn là một hình thức tiết kiệm cho tương lai.

1.2. Tình hình thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Mặc dù chỉ có khoảng 8% dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ, nhưng tiềm năng thị trường vẫn rất lớn. Các công ty bảo hiểm cần nỗ lực hơn nữa để khai thác thị trường này.

II. Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm nhân thọ

Yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua bảo hiểm nhân thọ. Những cảm xúc, niềm tin và thái độ của người tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm này.

2.1. Yếu tố tâm lý và động lực mua bảo hiểm

Nhu cầu bảo vệ tài chính và sự an tâm cho gia đình là động lực chính thúc đẩy người tiêu dùng quyết định mua bảo hiểm nhân thọ. Những người có ý thức cao về rủi ro thường có xu hướng mua bảo hiểm nhiều hơn.

2.2. Động lực xã hội và ảnh hưởng từ gia đình

Ý kiến và sự khuyến khích từ gia đình, bạn bè có thể tác động mạnh mẽ đến quyết định mua bảo hiểm. Những người có người thân đã từng tham gia bảo hiểm thường có xu hướng tích cực hơn trong việc xem xét sản phẩm này.

III. Thông tin sản phẩm bảo hiểm và ảnh hưởng đến quyết định mua

Thông tin về sản phẩm bảo hiểm là yếu tố quan trọng giúp người tiêu dùng đưa ra quyết định. Sự minh bạch và dễ hiểu trong thông tin sản phẩm sẽ tạo niềm tin cho khách hàng.

3.1. Độ tin cậy của thông tin sản phẩm

Người tiêu dùng thường tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả từ công ty bảo hiểm và các chuyên gia. Độ tin cậy của thông tin sẽ ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm.

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hiểu biết về sản phẩm

Sự phức tạp của các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm có thể khiến người tiêu dùng cảm thấy khó khăn trong việc đưa ra quyết định. Các công ty bảo hiểm cần đơn giản hóa thông tin để khách hàng dễ dàng tiếp cận.

IV. Chính sách bảo hiểm và tác động đến ý định mua

Chính sách bảo hiểm của công ty có thể ảnh hưởng lớn đến quyết định mua của khách hàng. Các yếu tố như giá cả, điều kiện hợp đồng và dịch vụ khách hàng đều cần được xem xét.

4.1. Giá cả và giá trị sản phẩm bảo hiểm

Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm. Người tiêu dùng thường so sánh giá giữa các sản phẩm khác nhau để tìm ra lựa chọn tốt nhất.

4.2. Dịch vụ khách hàng và hỗ trợ sau bán hàng

Chất lượng dịch vụ khách hàng và sự hỗ trợ sau bán hàng có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong trải nghiệm của khách hàng. Một dịch vụ tốt sẽ khuyến khích khách hàng quay lại và giới thiệu cho người khác.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua bảo hiểm nhân thọ. Việc hiểu rõ những yếu tố này sẽ giúp các công ty bảo hiểm phát triển chiến lược marketing hiệu quả hơn.

5.1. Kết quả từ khảo sát người tiêu dùng

Khảo sát cho thấy rằng yếu tố tâm lý và thông tin sản phẩm là hai yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm nhân thọ. Các công ty cần chú trọng đến việc cung cấp thông tin rõ ràng và dễ hiểu.

5.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Các công ty bảo hiểm có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để điều chỉnh chiến lược marketing, cải thiện dịch vụ khách hàng và phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ có tiềm năng phát triển lớn tại Việt Nam. Các công ty bảo hiểm cần nỗ lực hơn nữa để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và phát triển thị trường.

6.1. Tương lai của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Với sự gia tăng nhận thức về tầm quan trọng của bảo hiểm, thị trường bảo hiểm nhân thọ dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

6.2. Đề xuất cho các công ty bảo hiểm

Các công ty bảo hiểm nên tập trung vào việc cải thiện chất lượng dịch vụ, cung cấp thông tin minh bạch và phát triển sản phẩm đa dạng để thu hút khách hàng.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trên địa bàn thành phố rạch giá

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I, điều 3 thì “BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”.2 Lịch sử ra đời BHNT ra đã đời và phát triển từ rất lâu trên thế giới. Hợp đồng BHNT đầu tiên ra đời năm 1583 ở Luân Đôn, do công dân Luân Đôn là ông William Gybbon tham gia bảo hiểm. Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh. Như vậy, BHNT đã có từ rất sớm, nhưng lại không có điều kiện phát triển ở một số nước do thiếu cơ sở kỹ thuật.

Tuy nhiên sau đó do sự phát triển kinh tế mạnh mẽ, cuộc sống của con người được cải thiện rõ rệt, thêm vào đó là sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật nên BHNT đã có điều kiện phát triển trên phạm vi rộng lớn. Năm 1759, công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Châu Mỹ, công ty bảo hiểm Philadelphia của Mỹ. Công ty này đến nay vẫn còn hoạt động, nhưng lúc đầu chỉ bán các hợp đồng bảo hiểm cho các con chiên trong nhà thờ của họ. Năm 1762, ở Anh thành lập công ty BHNT Equitable.

Đây là công ty đầu tiên bán các hợp đồng bảo hiểm rộng rãi cho nhân dân và áp dụng nguyên tắc phí bảo hiểm không đổi trong suốt thời gian bảo hiểm. Năm 1812, một công ty BHNT nữa được thành lập ở Bắc Mỹ. Năm 1860 bắt đầu xuất hiện hệ thống mạng lưới đại lý BHNT. Ở Châu Á, các công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Nhật Bản.

Năm 1868 công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay. Trên thế giới, BHNT là loại hình bảo hiểm phát triển nhất. Với nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của BHNT, trong những năm qua Chính phủ và Bộ tài chính rất quan tâm phát triển nghiệp vụ này. Với sự ra đời của công ty BHNT, chính thức đầu tiên ở Việt Nam năm 1996 đã khẳng định rõ sự quan tâm của các cơ quan nhà nước tầm vĩ mô.

Mặc dù chúng ta mới tiến hành nghiệp vụ BHNT hơn năm năm, nhưng những gì BHNT Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đạt được trong thời gian đó rất đáng ghi nhận. Tạo nên cho người dân Việt Nam một phong tục sống mới, một hình thức tiết kiệm mới. Trong thực tế bảo BHNT đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm dưới nhiều hình thức khác nhau. Trước năm 1954, ở miền Bắc, những người làm việc cho Pháp đã được bảo hiểm và một số gia đình đã được hưởng quyền lợi bảo hiểm của các hợp đồng BHNT này.

Các hợp đồng bảo hiểm này đều được do các công ty bảo hiểm của Pháp trực tiếp thực hiện. Trong những năm 1970 -1971 ở miền Nam công ty Hưng Việt bảo hiểm đã triển khai một số loại hình bảo hiểm như “An Sinh Giáo Dục”, “Bảo Hiểm Trường Sinh” (BHNT trọn đời), “ Bảo hiểm tử kỳ thời hạn 5-10 20 năm” nhưng công ty này chỉ hoạt động từ một đến hai năm nên các nghiệp vụ bảo hiểm không được biết đến rộng rãi. Năm 1987, Bảo Việt đã có đề án “BHNT và việc vận dụng vào Việt Nam” nhưng vào lúc đó điều kiện đất nước còn gặp nhiều khó khăn như: Tỷ lệ lạm phát rất cao và không ổn định. Thu nhập của nhân dân chỉ đủ để chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu thường ngày, phần tiết kiệm đầu tư rất ít chưa có điều kiện để công ty bảo hiểm hoạt động trong lĩnh vực đầu tư.

Công ty bảo hiểm lúc đó chưa được phép sử dụng quỹ bảo hiểm đi đầu tư, môi trường đầu tư chưa phát triển. Chưa có những quy định mang tính chất pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ giá công ty bảo hiểm, bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm và khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm. Với những khó khăn trên đã không cho phép công ty Bảo Việt phát triển nghiệp vụ BHNT. Thay cho BHNT năm 1990 Bộ Tài Chính cho phép công ty Bảo Việt triển khai “Bảo hiểm sinh mạng con người thời hạn 1 năm”.

Thực tế triển khai nghiệp vụ này cho thấy: việc lo xa cho gia đình khi không may người chủ gia đình bị mất mà chỉ tính đến trong vòng 1 năm là không hấp dẫn. Tâm lý người tham gia loại hình bảo hiểm này cũng không thoải mái. Và do đó loại hình bảo hiểm này chỉ đáp ứng được nhu cầu cho những người già. Với thực tế trên, cùng với việc đánh giá các điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ 90, tổng cộng công ty bảo hiểm Việt Nam đã bắt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đầu tiến hành nghiên cứu triển khai nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ với hai loại hình mang tính chất tiết kiệm từ cuối năm 1993.

Đến tháng 1 năm 1994, tổng công ty bảo hiểm Việt Nam mới chính thức trình Bộ Tài chính dự án thành lập công ty BHNT. Với những yêu cầu về quản lý quỹ BHNT, Bộ Tài Chính đã ký quyết định số 568/QĐ/TCCB ngày 22/6/1996 thành lập công ty BHNT trực thuộc Bảo Việt. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam. Cho đến nay BHNT đã phát triển rất mãnh mẽ và đa dạng.

Từ những loại hình nhân thọ cơ bản là bảo hiểm sinh mạng có thời hạn ( Bảo hiểm tử kỳ ), bảo hiểm trọn đời, BHNT hỗn hợp, bảo hiểm trợ cấp hưu trí, mỗi công ty bảo hiểm đều thiết kế những sản phẩm mang những đặc thù riêng để đáp ứng nhu cầu tài chính của từng khu vực dân cư và phù hợp với chính sách kinh tế, xã hội của từng quốc gia.3 Phân loại bảo hiểm Phân loại bảo hiểm theo Luật kinh doanh bảo hiểm Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam ( sửa đổi năm 2010), các nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành: BHNT, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Cụ thể như sau: a. Bảo hiểm nhân thọ, bao gồm: +Bảo hiểm trọn đời; +Bảo hiểm sinh kỳ; +Bảo hiểm hỗn hợp; +Bảo hiểm trả tiền định kỳ; +Bảo hiểm liên kết đầu tư; +Bảo hiểm hưu trí; b. Bảo hiểm phi nhân thọ, bao gồm: +Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; +Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 nội địa, đường sắt và đường hàng không; + Bảo hiểm hàng không; +Bảo hiểm xe cơ giới +Bảo hiểm cháy, nổ; +Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; +Bảo hiểm trách nhiệm; +Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; +Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; +Bảo hiểm nông nghiệp; c.

Bảo hiểm sức khỏe, bao gồm: +Bảo hiểm tai nạn con người; +Bảo hiểm y tế; +Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe; Phân loại bảo hiểm theo đối tượng bảo hiểm Theo tiêu thức này, bảo hiểm được chia thành 3 loại: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người. a) Bảo hiểm tài sản bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm là các tài sản và những lợi ích liên quan. b) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bao gồm những đối tượng bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường của người được bảo hiểm phát sinh theo quy định về trách nhiệm dân sự của pháp luật. c) Bảo hiểm con người bao gồm những đối tượng bảo hiểm là tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động và tuổi thọ con người.

Phân loại bảo hiểm theo hình thức bảo hiểm a) Bảo hiểm tự nguyện Bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm mà hợp đồng bảo hiểm được ký kết theo ý muốn của bên được bảo hiểm và hoàn toàn dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa hai bên ( bên bán bảo hiểm và bên mua bảo hiểm). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Phần lớn các nghiệp vụ bảo hiểm thuộc loại bảo hiểm tự nguyện. b) Bảo hiểm bắt buộc Là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức , cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vũ thực hiện.4 Lợi ích của bảo hiểm nhân thọ a) Đối với cá nhân BHNT đảm bảo an toàn về tài chính cho những ngừoi phụ thuộc. Giúp đảm bảo khoản chi phí tài chính để khắc phục tổn thất khi người trụ cột gặp rủi ro, giúp duy trì mức sống ổn định cho gia đình khi những rủi ro bất ngờ ập đến.

BHNT còn là quỹ tiết kiệm cho tương lai, giúp tích luỹ có kỹ luật để có một khoản tiền lớn chăm lo cho tương lai học vấn của con cái. Tham gia BHNT còn xây dựng quỹ tiết kiệm dài hạn cho những kế hoạch của cá nhân và gia đình. Chỉ cần để dành những khoản tiền nhỏ đều đặn bạn có thể thực hiện những kế hoạch cho tương lại như: lập gia đình, mua nhà, mua xe, hay những mong muốn khác. b) Đối với xã hội BHNT là một công cụ hữu hiệu để huy động những nguồn tiền mặt nhàn rỗi ở các tầng lớp dân cư trong xã hội để thực hành tiết kiệm, đầu tư cho những dự án trung và dài hạn nhằm góp phần pháp triển đất nước, góp phần chống lạm phát.

Tạo sự ổn định xã hội thông qua việc giảm thiểu tối đa sự lo lắng cho bên mua bảo hiểm. Giảm gánh nặng ngân sách quốc gia trong việc chăm lo người già, và những người phụ thuộc khi người trụ cột trong gia đình qua đời. Tạo công ăn việc làm cho nhiều người 2.5 Nguyên tắc hoạt động BHNT là một cơ chế chuyển giao rủi ro và hoạt động theo các nguyên tắc: a) Nguyên tắc vừa bảo hiểm vừa tiết kiệm: Khi hợp đồng được ký kết người tham gia BHNT sẽ tuỳ chọn lấy số tiền bảo hiểm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 sẽ nhận về sau và từ đó sẽ thực hiện đóng phí theo quy định và nộp phí theo ( tháng, quý, năm ). Khi hết hạn hợp đồng bảo hiểm người tham gia bảo hiểm được nhận toàn bộ số tiền bảo hiểm.

Đó là mức trách nhiệm tối đa mà công ty bảo hiểm phải trả, ngoài ra họ còn được nhận một khoản lãi suất từ hoạt động đầu tư vốn của công ty BHNT. Nếu ngừoi tham gia BHNT bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn thì công ty sẽ dừng thu phí nhưng hợp đồng vẫn được duy trì và công ty bảo hiểm sẽ trả toàn bộ số tiền bảo hiểm khi hết hạn hoạt động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ