CHƯƠNG 1 5 Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu tổng quát. Những nội dung này sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về các cơ sở lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 2.1 Sự phát triển của ngành công nghiệp mỹ phẩm Mỹ phẩm là những chất hoặc sản phẩm được dùng để trang điểm hoặc thay đổi diện mạo hoặc mùi hương cơ thể người. Nhiều mỹ phẩm được thiết kế để sử dụng cho mặt và tóc.
Chúng thường là hỗn hợp các hợp chất hóa học; một số xuất phát từ nguồn gốc tự nhiên (ví dụ như dầu dừa) và một số được tổng hợp. Các loại mỹ phẩm phổ biến gồm có son môi, mascara, phấn mắt, kem nền, phấn má hồng, phấn phủ, sữa rửa mặt và sữa dưỡng thể, dầu gội, sản phẩm tạo kiểu tóc (gel vuốt tóc, gôm xịt tóc,. Mỹ phẩm thường được thoa lên mặt để làm nổi bật diện mạo nên còn được gọi là đồ trang điểm hay đồ hóa trang. Sản xuất mỹ phẩm bị chi phối bởi một số nhỏ các tập đoàn đa quốc gia có xuất xứ từ đầu thế kỷ 20, nhưng phân phối và bán mỹ phẩm đã lan rộng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh.
Năm 2005, khối lượng thị trường của ngành mỹ phẩm ở Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản vào khoảng 70 tỷ EUR/năm. Tại Đức, ngành công nghiệp mỹ phẩm đã tạo ra 12,6 tỷ Euro doanh số bán lẻ trong năm 2008, làm cho ngành mỹ phẩm Đức đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Nhật Bản và Hoa Kỳ. Xuất khẩu mỹ phẩm của Đức đã đạt 5,8 tỷ EUR trong năm 2008, trong khi nhập khẩu mỹ phẩm đạt 3 tỷ EUR. Ngành mỹ phẩm và nước hoa trên toàn thế giới hiện đang tạo ra doanh thu hàng năm ước tính khoảng 170 tỷ USD (theo Eurostaf - tháng 5 năm 2007).
Theo FIPAR (Fédération des Industries de la Parfumerie - Liên bang công nghiệp nước hoa Pháp), Châu Âu là thị trường hàng đầu, chiếm khoảng 63 tỷ EUR, trong khi doanh thu tại Pháp đạt mức kỉ lục 6,5 tỷ EUR trong năm 2006. Pháp là một quốc gia khác trong đó ngành công nghiệp mỹ phẩm đóng một vai trò quan trọng, cả trong nước và quốc tế. Theo dữ liệu từ năm 2008, ngành công nghiệp mỹ phẩm đã tăng trưởng liên tục ở Pháp trong 40 năm liên tiếp. Các nhãn hiệu mỹ phẩm nổi tiếng được sản xuất tại Pháp bao gồm Vichy, Yves Saint Laurent, Yves Rocher và nhiều nhãn hiệu mỹ phẩm khác.
Theo Euromonitor International, thị trường mỹ phẩm ở Trung Quốc dự kiến sẽ đạt 7,4 USD tỷ vào năm 2021 so với 4,3 USD tỷ vào năm 7 2016. Sự gia tăng là do phương tiện truyền thông xã hội và động thái thay đổi của người trong độ tuổi 18 đến 30. Procter & Gamble, chuyển nhượng nhãn hiệu đồ trang điểm CoverGirl và Dolce & Gabbana, tài trợ một nghiên cứu kết luận rằng trang điểm làm cho phụ nữ có vẻ tài giỏi hơn. Năm 1990s, Hàn Quốc mở cửa cho các thương hiệu ngoại.
Các thương hiệu này bắt đầu thâm nhập vào trung tâm thương mại, doanh số của chúng tăng dần theo tháng năm. Ngành công nghiệp mỹ phẩm Hàn Quốc bước vào giai đoạn chuyển giao. Năm 2002, cửa hàng độc quyền thương hiệu đầu tiên ra đời. Công ty Able C&C đã ra mắt cửa hàng riêng cho thương hiệu Missha, với ý tưởng mang đến dòng sản phẩm giá rẻ dưới 3,300 KRW.
Ý tưởng này nhanh chóng được người tiêu dùng đón nhận, và cách làm này nhanh chóng trở thành kênh phân phối dẫn đầu của nền công nghiệp mỹ phẩm. Năm 2003, các thương hiệu khác nhanh chóng bắt nhịp với hình thức phân phối mới. Các cửa hàng độc quyền của thương hiệu The Face Shop, Skinfood nhanh chóng vào cuộc, với phương châm hàng chất lượng, giá bình dân. Hai tập đoàn lớn nhất trong nền công nghiệp mỹ phẩm Hàn Quốc là Amore Pacific và LG Household & Healthcare bắt nhịp cuộc chơi.
Sự hình thành cửa hàng độc quyền thương hiệu thực sự đã đẩy nền công nghiệp mỹ phẩm Hàn Quốc trở nên nóng, cạnh tranh khốc liệt hơn. Thời gian tung sản phẩm mới rút ngắn từ 2 năm về còn 6 tháng. Hiện nay, mỹ phẩm của Hàn Quốc cũng đã gia nhập vào thị trường Việt Nam và nhanh chóng trở nên được ưa thích bởi rất nhiều người tiêu dùng vì các sản phẩm này rất phù hợp với làn da của người Châu Á. Hàn Quốc nằm trong top 10 thị trường làm đẹp trên toàn thế giới, với doanh thu 2018 ước tính hơn 13,1 tỷ USD, theo Hãng nghiên cứu Mintel.
Riêng sản phẩm chăm sóc da mặt chiếm một nửa tổng thị phần và dự kiến sẽ đạt 7,2 tỷ USD vào 2020. Bắt đầu với phim ảnh và âm nhạc, văn hóa Hàn, từ ẩm thực, thời trang đến làm đẹp, dần lan ra khắp thế giới thông qua mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến. Những "thần tượng K-pop" như ca sĩ nhạc rap PSY, nhóm nhạc nữ Wonder Girls hay mới đây nhất là nhóm nhạc nam BTS, đều gây ấn tượng mạnh khi tấn công vào Hollywood - vốn được xem là "khó tính" đối với nghệ sĩ nước ngoài. Còn trong khu vực, người tiêu dùng đều muốn có một làn da đẹp không tì vết giống những người nổi tiếng Hàn Quốc.
Các nhãn hàng lớn ở Hàn Quốc luôn biết cách thu hút người tiêu dùng bằng cách mời các thần tượng có số lượng người hâm mộ khổng 8 lồ làm đại sứ thương hiệu để đẩy mạnh doanh thu của các sản phẩm làm đẹp. Và cách làm này dường như có hiệu quả rất lớn trong các chiến dịch marketing. Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO là một cơ hội để các doanh nghiệp mỹ phẩm Hàn tìm kiếm sự phát triển và mở rộng thị trường. Theo Mintel, công ty nghiên cứu thị trường có trụ sở tại London, thị trường mỹ phẩm Việt Nam trị giá 2,3 tỷ USD vào cuối năm 2018.
Đây là một thị trường đầy tiềm năng, khi mà tầng lớp trung lưu Việt Nam năm 2020 dự kiến khoảng 33 triệu người. Doanh thu thị trường mỹ phẩm không ngừng tăng lên trong 2 thập niên qua, đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều thương hiệu mỹ phẩm ngoại (Việt Nam - Điểm đến hấp dẫn của thương hiệu mỹ phẩm, chăm sóc sắc đẹp ngoại, 2021). Theo khảo sát được thực hiện bởi Q&Me, với 458 nữ giới từ 16 tuổi trở lên (tháng 1/2020), mang lại một cái nhìn tổng quan về tình hình tiêu thụ mỹ phẩm của người Việt. Khảo sát cho thấy số tiền trung bình mà phụ nữ Việt chi tiêu cho mỹ phẩm chăm sóc da là 436.
Khảo sát cũng chỉ ra phụ nữ ở các thành phố lớn như TP.HCM và Hà Nội sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn cho mỹ phẩm chăm sóc da và sản phẩm trang điểm. Thói quen sử dụng mỹ phẩm khác biệt theo từng độ tuổi. Hơn một nửa số người từ 23 tuổi trở lên trang điểm thường xuyên khi đi làm, đi học, đi chơi hoặc tham dự các buổi tiệc. Theo khảo sát số tiền chi tiêu cho mỹ phẩm trung bình mỗi tháng là 432.
Vậy nên Việt Nam là một trong những thị trường mỹ phẩm tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á. Trong thị trường làm đẹp, Hàn Quốc chiếm gần 1/3 tổng giá trị mỹ phẩm nhập khẩu, đứng đầu trong các thị trường có xuất khẩu mặt hàng này vào Việt Nam - theo đơn vị nghiên cứu thị trường Kantar dẫn số liệu từ Tổng cục Hải quan. Thương hiệu Hàn Quốc chiếm tới một nửa tốp 20 thương hiệu thu hút người mua nhất trong sản phẩm mặt nạ làm đẹp và chiếm 1/3 đối với sản phẩm trang điểm, theo báo cáo “Tỏa sáng cùng thị trường làm đẹp Việt Nam” của Kantar. Điều này đã chứng tỏ mỹ phẩm Hàn Quốc có một vị thế vô cùng lớn trong thị trường làm đẹp ở Việt Nam.2 Khái niệm và sự phát triển của son môi Mỹ phẩm được phân loại thành rất nhiều sản phẩm với các công dụng khác nhau như để trang điểm (son, phấn phủ, kem nền, má hồng, kẻ mắt.), chăm sóc da (sữa rửa mặt, kem dưỡng, serum, lotion,…), sản phẩm về hương thơm (nước hoa, xịt khử mùi,…) và sử dụng cho cả thân thể chứ không riêng ở mặt (sơn móng, body lotion…) Trong số đó son là sản 9 phẩm thuộc về phân loại đồ trang điểm.
Son môi là mỹ phẩm có chứa sắc tố, dầu, sáp, chất làm mềm da; có tác dụng tô thoa tạo màu sắc, tạo bề mặt và bảo vệ đôi môi. Nhiều màu sắc và kiểu loại son môi tồn tại. Sử dụng son môi đã tồn tại từ thời Trung Cổ. Một số son môi cũng là chất dưỡng môi, để gia tăng màu sắc và độ ẩm.
Có rất nhiều các phương pháp bào chế son môi được áp dụng trên các quốc gia khác nhau từ các thời kì khác nhau nhưng đa số các loại son môi này đều gây độc hại đến người sử dụng vì chứa các thành phần không an toàn. Vì vậy có khoảng thời gian son môi không được chấp nhận ở Anh vì sự độc hại và mọi người cho rằng son môi chỉ dành cho những người phụ nữ có địa vị và ở tầng lớp thấp kém. Đến cuối năm 1890, trang điểm được tuyên bố hợp pháp và những catalo quảng cáo son môi xuất bản. Son môi trở nên phổ biến và có thể thấy chúng ở khắp mọi nơi.
Chấp nhận toàn vẹn việc sử dụng mỹ phẩm công khai ở Anh dường như đã trở thành mốt thời thượng của người Luân Đôn ít nhất vào năm 1921. Những năm 1930 ở Hoa Kì, các cô gái trẻ tin rằng son môi là một biểu tượng phái nữ nhưng người lớn lại nhìn thấy tô son như một hành động nổi loạn. Nhiều người Mỹ, đặc biệt là người nhập cư, không chấp nhận các cô gái trẻ thoa son môi. Một nghiên cứu vào năm 1937, khảo sát cho biết rằng hơn 50% các cô gái tuổi teen đã đấu tranh với cha mẹ của họ để được thoa son môi.
Mỹ phẩm MAC tiếp tục phát hành phiên bản giới hạn và son môi có phạm vi rộng về màu sắc, trong đó có màu sắc cá tính như màu nền tím, xanh lam và xanh lục. Thậm chí màu son đen và tím rất phổ biến với những người trang điểm theo phong cách Punk và Goth.