Chương 1: Giới thiệu đề tài. Nội dung chương bao gồm lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về những yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Nội dung chương bao gồm tập hợp những nghiên cứu về những yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp trên phạm vi thế giới.
Không những cung cấp thông tin tổng quát về nhiều nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực, nội dung chương còn đề cập tới những xu hướng khác biệt trong kết quả nghiên cứu của cùng một chủ đề trên thế giới. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương mô tả phương pháp được sử dụng trong việc thực hiện đề tài nghiên cứu, bao gồm thống kê mô tả và xây dựng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 mô hình hồi quy tuyến tính đa bội. Bên cạnh đó, việc thu thập, xử lí, phân tích dữ liệu cũng được trình bày trong nội dung chương 3.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Nội dung chương phân tích và thảo luận về kết quả thống kê thu nhận được sau khi hoàn thành xong mô hình hồi qui ở chương 3 về những yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp Việt Nam. Chương 5: Kết luận. Nội dung chương cung cấp đánh giá của tác giả về toàn bộ nội dung nghiên cứu của đề tài, đặc biệt thông qua việc phân tích kết quả của mô hình thống kê trong chương 4.
Ngoài ra, chương 5 cũng đề cập đến những hạn chế của đề tài mà tác giả chưa khắc phục được và hướng nghiên cứu trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT CỦA DOANH NGHIỆP Đề tài nắm giữ tiền mặt đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện trong nhiều năm qua và các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt của công ty đã chiếm vị trí trung tâm trong các tài liệu quản trị tiền mặt nói riêng và tài chính doanh nghiệp nói chung. Trong chương này, các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả sẽ được trình bày lại để người đọc có một cách nhìn bao quát về vấn đề nắm giữ tiền mặt và những yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Về vấn đề lợi ích và bất lợi của việc nắm giữ tiền mặt, Joseph (1974) cho rằng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các quyết định tài chính không tác động đến giá trị công ty.
Theo đó, việc nắm giữ tài sản có tính thanh khoản và các quyết định đầu tư vào tài sản ngắn hạn không ảnh hưởng đến giá trị tài sản của các cổ đông. Sau đó một năm, Opler, Pinkowitz, Stulz và Williamson (1975) cũng đưa ra kết luận tương tự khi nghiên cứu các yếu tố tác động đến giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, sự tồn tại thị trường cạnh tranh không hoàn hảo ngụ ý rằng, các quyết định đầu tư có ảnh hưởng đến giá trị của công ty, nghĩa là có một mức tiền mặt được nắm giữ tối ưu mà tại đó có sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích của việc nắm giữ tiền, để từ đó có thể tối đa hóa giá trị của công ty. Xét về lợi ích, các công ty cần tiền mặt để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh một cách bình thường và có thể tận dụng các cơ hội đầu tư sinh lợi trong tương lai cũng như để đáp ứng các biến cố không lường trước được.
Hơn nữa, việc nắm giữ tiền mặt cũng là cách nhằm làm giảm sự phụ thuộc của công ty vào nguồn tài trợ bên ngoài nhiều tốn kém do sự hiện diện của thông tin bất cân xứng giữa chủ nợ và người đi vay. Thực tế cho thấy, việc huy động nguồn tài trợ bên ngoài thông qua thị trường vốn sẽ khó khăn và tốn kém hơn đối với các công ty, đặc biệt là đối với những công ty có ít mối quan hệ với ngân hàng hay các tổ chức cho vay vốn. Trong tình huống này, công ty cần phải thiết lập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 một hệ thống phân cấp về tài chính và cần có những quyết định chính xác trước khi vay nợ, theo lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984). Cũng theo lý thuyết này, chi phí vay có thể tránh được nếu công ty có khả năng giữ lại tiền mặt trong nội bộ để thực hiện các dự án đầu tư có NPV dương.
Nói cách khác, các nhà quản lý có thể tránh được vấn đề này bằng cách xác định mức tiền mặt cần nắm giữ cho công ty. Nắm giữ tiền mặt lúc này sẽ có lợi vì công ty có thể tận dụng được các cơ hội đầu tư, đặc biệt là cho các công ty có khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài. Ngoài ra, việc đảm bảo tính thanh khoản cũng làm giảm khả năng phát sinh chi phí tài chính nếu hoạt động của công ty không tạo ra dòng tiền đủ để đáp ứng việc thanh toán các khoản nợ bắt buộc (Faulkender và Wang, 2006). Liên quan đến vấn đề lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền mặt, năm 1979, Jensen và Meckling cũng đã làm rõ những lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt.
Trước tiên, nắm giữ tiền là để phòng ngừa, việc công ty duy trì được tính thanh khoản sẽ giúp công ty linh hoạt hơn trong việc giải quyết các tình huống bất ngờ. Thứ hai, đối với các hoạt động giao dịch, tiền mặt có thể đáp ứng những nhu cầu từ những hoạt động bình thường của công ty như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiết đúng hạn đảm bảo uy tín của doanh nghiệp đối với chủ nợ, hạn chế việc gây gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh và nhiều hậu quả kéo theo như mất thị phần, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp,…Thứ ba, công ty dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiện cơ hội đầu tư tốt, bởi sự có mặt của bất cân xứng thông tin có thể gia tăng chi phí tài chính từ bên ngoài. Theo Myers (1984), việc duy trì một mức dự trữ tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu khi mua hàng, làm tăng khả năng thanh toán. Hơn thế nữa, sự tồn tại của chi phí đại diện có thể làm gia tăng chi phí để các công ty có được nguồn tài trợ bên ngoài, điều này có thể dẫn đến việc các công ty bỏ qua việc đầu tư vào các dự án có NPV dương.
Vì vậy, các nhà quản lý của công ty nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao là nhằm để giảm chi phí phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nói như thế không có nghĩa là khi công ty có càng nhiều tiền mặt thì luôn tốt. Việc đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao cũng có những bất lợi vì phát sinh nhiều chi phí. Một mức tiền mặt cao thể hiện trong bảng cân đối kế toán có thể khiến cho nhà đầu tư đặt ra nhiều câu hỏi, nhất là khi lượng tiền mặt đột nhiên cao hơn mức bình thường.
Tại sao các nhà quản trị lại để tiền mặt ở đó mà không đem đi đầu tư? Nhà đầu tư có quyền nghi ngờ vì doanh nghiệp đã bị mất các cơ hội đầu tư hoặc là ban quản trị doanh nghiệp quá yếu kém nên đã không biết làm gì với lượng tiền mặt đó. Việc để tiền mặt trong doanh nghiệp quá nhiều có thể làm cho doanh nghiệp mất chi phí cơ hội, nếu công ty bỏ qua những dự án đầu tư đem lại nhiều lợi nhuận. Chi phí cơ hội của tiền mặt trong trường hợp này được hiểu là sự khác biệt giữa lãi suất có được khi nắm giữ tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng và cái giá phải trả để có được tiền mặt chính là chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp - WACC. Mặt khác, dự trữ tiền mặt nhiều có thể làm gia tăng mâu thuẫn giữa nhà quản trị và cổ đông hay nói cách khác, chi phí đại diện rất dễ xảy ra trong tình huống này.
Theo đó, nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng dòng tiền tự do một cách tùy ý, điều này sẽ gây ra mâu thuẫn với lợi ích của cổ đông (Jensen, 1986). Khi các nhà quản trị muốn gia tăng mức tiền mặt nắm giữ trong doanh nghiệp, các nhà quản trị luôn đưa ra những lời giải thích dường như rất hợp lý: tiền mặt nhiều có thể giúp doanh nghiệp có tính linh hoạt về mặt tài chính hơn; thực hiện các phi vụ thâu tóm một cách nhanh chóng hơn. Thế nhưng, với các doanh nghiệp có lượng tiền mặt nhiều hơn mức cần thiết mà các lý thuyết đề nghị thì sẽ nảy sinh các vấn đề đại diện. Các nhà quản trị có thể thực hiện những vụ thâu tóm lãng phí và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả nhằm phục vụ cho các lợi ích cá nhân, các động cơ bên trong đó chính là việc tư lợi của các nhà quản trị.
Thậm chí trong tình huống tệ hơn, các doanh nghiệp có lượng tiền mặt quá dồi dào còn giúp cho các nhà quản trị giảm áp lực cho quá trình vận hành doanh nghiệp. Họ không bị sức ép phải tính toán điều hành hợp lý nhất để đáp ứng được các nghĩa vụ ngắn hạn như các doanh nghiệp chỉ có lượng tiền mặt vừa phải theo mức cần thiết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Harford (1999) đã nghiên cứu dựa trên mẫu các công ty Mỹ trong giai đoạn 1977 – 1993. Harford đã cho thấy những công ty có nhiều tiền mặt có thu nhập thấp hơn những công ty khác, bằng chứng cho thấy thu nhập trên cổ phiếu ở các công ty có nhiều tiền mặt giảm, cụ thể những công ty nắm giữ nhiều tiền mặt giảm 7 xu thu nhập trên cổ phiếu với mỗi Đô la tiền mặt nắm giữ tăng thêm.
Những công ty giữ nhiều tiền mặt dường như có mục tiêu tạo ra những nguồn thu nhập đa dạng và mục đích của họ không phải là thu hút những người mua đi bán lại. Phù hợp với bằng chứng về thu nhập cổ phiếu, những công ty liên kết trong đó các công ty thành viên nắm giữ nhiều tiền mặt có kết quả hoạt động sụt giảm bất thường.