Mở đầu – trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu với các nội dung lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu cũng nhƣ phƣơng pháp nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu lên đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu với ý nghĩa của nghiên cứu về mặt thực tiễn và lý thuyết. Tiếp theo đó, ở Chƣơng II – Cơ sở lý thuyết, tác giả trình bày các khái niệm, Hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn (Short – form video app usage behavior), Lý thuyết về sự gắn kết (Attachment theory), Tiếp cận kỹ thật xã hội (Social Technical approach) và Đặc điểm cá nhân (Personality traits). Ngoài ra, tác giả trình bày các nghiên cứu liên quan, các giả thuyết nghiên cứu và từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu.
Trong Chƣơng III – Phƣơng pháp nghiên cứu, tác giải trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu, thang đó sơ bộ và chính thức của các khái niệm nghiên cứu cũng nhƣ phƣơng pháp lấy mẫu và cỡ mẫu. Đồng thời, tác giả trình bày phƣơng pháp phân tích dữ liệu đƣợc thực hiện. Ở Chƣơng IV – Kết quả nghiên cứu, tác giả trình bày kết quả phân tích dữ liệu từ một mẫu có kích thƣớc hơn 200 thông qua phần mềm SPSS 20.0 và phần mềm AMOS 20. Cụ thể, tác giả tiến hành các bƣớc thống kê mô tả, đánh giá thang đo (sơ bộ và chính thức), kiểm định mô hình nghiên cứu bằng SEM và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra.
Cuối cùng, tác giả thảo luận các kết quả nghiên cứu đạt đƣợc. Trong chƣơng cuối cùng, Chƣơng V – Kết luận và kiến nghị, các kết quả nghiên cứu sẽ đƣợc tóm tắt và tổng kết ở phần kết lận. Từ kết quả đó, nghiên cứu sẽ đƣa ra một số dóng góp của đề tài, hàm ý quản trị. Bên cạnh đó, tác giả sẽ tổng kết những điểm hạn chế của đề tài, đồng thời đề xuất ra hƣớng mở rộng cho nghiên cứu tiếp theo.
8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương II trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm chính trong nghiên cứu này, gồm Hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn, Lý thuyết về sự gắn kết và Tiếp cận kỹ thuật xã hội. Tiếp đó, các giả thuyết nghiên cứu được trình bày, từ đó hình thành nên mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG NGHIÊN CỨU 2. Ứng dụng video dạng ngắn (Short – form video app) Ứng dụng video dạng ngắn là sản phẩm của nhịp sống hiện đại với nhịp độ nhanh (Wang, 2020).
Các video ngắn hơn kéo dài từ 15 đến 60 giây có nhiều khả năng thu hút sự chú ý của ngƣời dùng hơn (Wright, 2017). Chúng cho phép ngƣời tiêu dùng đem lại sự thuận tiện trên điện thoại di động trong thời gian nghỉ theo phân đoạn (Li, 2018). Do đó, nhu cầu tiêu thụ nội dung nhanh và ngắn ngày càng tăng đã dẫn đến sự phát triển của các nền tảng ứng dụng video dạng ngắn nhƣ Instagram, Snapchat và TikTok. Cùng với việc sử dụng hàng ngày ngày càng tăng, các nền tảng này đang phổ biến đối với sinh viên.
Tính giải trí (kỹ thuật) và Sự cô lập xã hội (xã hội) Sự gắn kết không chủ tập trung vào mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau mà còn có sự gắn kết với các ứng dụng video dạng ngắn, điều này nhấn mạnh sự phụ thuộc của sinh viên vào tính năng, chức năng của ứng dụng video dạng ngắn. Các nghiên cứu trƣớc đây cho rằng hành vi sử dụng các ứng dụng trong các bối cảnh khác nhau đều tập trung vào yếu tố kỹ thuật và xã hội thì đối với ứng dụng video dạng ngắn cũng sẽ kiểm tra hai yếu tố trên (kỹ thuật và xã hội). Yếu tố kỹ thuật và xã hội đƣợc giải thích nhƣ sau, theo Trist và cộng sự (1963) cho rằng có sự tƣơng quan giữa hai yếu tố kỹ thuật (đại diện cho Tính giải trí) và xã hội (đại diện cho Sự cô lập xã hội). Thứ nhất, đối với yếu tố kỹ thuật (tính giải trí), theo Krootov và cộng sự (2015) thì chúng đƣợc áp dụng trong hệ thống model – elearning nhằm hạn chế về ngƣời dùng, thƣờng sẽ đƣợc dùng trong môi trƣờng giáo dục nhằm chỉ để sinh viên 9 của một trƣờng truy cập vào chính cơ sở dữ liệu của trƣờng đó.
Yếu tố kỹ thuật còn đƣợc ứng dụng vào ngành thiết kế hệ thống thông tin (Robert & ctg. Do sự tiện lợi của nền tảng kỹ thuật nên nó thúc đẩy nhân sự làm việc trong lĩnh vực có sử dụng công nghệ thông tin nhằm cải thiện môi trƣờng làm việc. Yếu tố kỹ thuật thỏa mãn nhu cầu của ngƣời dùng nhằm để giải thích cho quá trình cho quá trình ứng dụng kỹ thuật vào tổ chức. Ví dụ yếu tố kỹ thuật của ứng dụng video dạng ngắn thì Krotov (2015) cho rằng ứng dụng video dạng ngắn đem lại những nội dung video đa dạng thông tin và kiến thức, chúng còn lý giải hành vi mua hàng trực tuyến trên ứng dụng video dạng ngắn.
Ngoài ra, Hu và cộng sự (2016) cho rằng sự tƣơng đồng, tính thoải mái và thông tin sản phẩm từ các doanh nghiệp sử dụng ứng dụng video dạng ngắn tác động tích cực đến giá trị ngƣời mua do ứng dụng video dạng ngắn cung cấp cho ngƣời sử dụng nhiều tính năng nhƣ: hiệu ứng ánh sáng, chỉnh sửa video,… chúng hỗ trợ ngƣời dùng chỉnh sửa video theo mong muốn nhằm đem lại sự giải trí hoặc thu hút ngƣời khác. Do đó, nghiên cứu này xác định yếu tố kỹ thuật là yếu tố mang tính giải trí. Thứ hai, đối với yếu tố xã hội (sự cô lập xã hội), Ahn và Shin (2013) cho rằng sự gắn kết là yếu tố trung gian ảnh hƣởng đến hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn và mục đích của ngƣời dùng tìm kiếm niềm vui. Cụ thể là ngƣời dùng bị cô lập xã hội ở ngoài đời thực trong giao tiếp trực tiếp thì sẽ tìm đến việc sử dụng ứng dụng video dạng ngắn, nên ứng dụng video dạng ngắn là công cụ thiết yếu để giải quyết vấn đề đó, dần dần ứng dụng video dạng ngắn sẽ thay thế giao tiếp trực tiếp và ngƣời dùng sẽ gia tăng hành vi sử dụng.
Do đó, nghiên cứu này tập trung vào sự cô lập xã hội để xem xét tác động của chúng đối với sự gắn kết với các ứng dụng video dạng ngắn là phù hợp. Vậy nên, hình thức sử dụng phƣơng pháp kỹ thuật (giải trí) và xã hội (sự cô lập xã hội) là một hình thức chung để phân tích hành vi sử dụng thiết bị công nghệ từ hai yếu tố trên (Wan & ctg. Tác giả xem xét phƣơng pháp tiếp cận kỹ thuật và xã hội để kiểm tra tác động của chúng vào sự gắn kết (sự 10 gắn kết giữa các cá nhân trên mạng xã hội và sự gắn kết với các trang mạng xã hội). Hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn (Short form video app usage behavior) Gao và cộng sự (2017) cho rằng hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn có thể là kết quả của quá trình hình thành tâm lý một cách tích cực nhƣ thích thú hoặc muốn có cảm giác thân thuộc trong thực tế.
Ren và cộng sự (2012) lý giải hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn để gắn kết tình cảm và sự quan tâm của các thành viên trong nhóm trực tuyến của họ. Ormar và Wang (2020) chứng minh ứng dụng video dạng ngắn đặc biệt hấp dẫn và phù hợp đối với những ngƣời trẻ tuổi vì nó cung cấp nội dung giải trí, ngƣời dùng đƣợc cá nhân hóa, ứng dụng video dạng ngắn sử dụng thuật toán đề xuất dựa trên hành vi của sinh viên và đẩy nội dung đó và mục “dành cho bạn” để đảm bảo sinh viên dễ dàng tìm kiếm nội dung mà họ muốn. Sinh viên có thể tìm kiếm video thông qua từ khóa tìm kiếm, theo dõi tài khoản hoặc kiểm tra các thẻ bắt đầu bằng # thịnh hành trên mục “khám phá”, giúp việc tìm kiếm thông tin trở thành trải nghiệm hấp dẫn hơn (Lv & Chen, 2018). Do đó, Blackwell và cộng sự (2017) chứng minh rằng hành vi gắn kết với ứng dụng video dạng ngắn nhằm thỏa mãn sự cô đơn trong đời sống thực, cụ thể là sự cô lập xã hội, là nguyên nhân dẫn đến hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn.
Ngoài ra, sinh viên sử dụng ứng dụng video dạng ngắn nhƣ là công cụ chỉnh sửa video, gắn nhạc nền và thêm nhiều hiệu ứng, nhãn dán. Họ có thể phổ biến rộng rãi những video ngắn của mình không chỉ trên ứng dụng video dạng ngắn mà còn đăng tải lại trên các kênh truyền thông xã hội khác (ví dụ: Wechat, Weibo, Instagram,…). Ngoài ra, ứng dụng video dạng ngắn luôn có những tính năng cơ bản (ví dụ: gửi tin nhắn trực tiếp, thích, bình luận trên video), điều này đáp ứng cho sinh viên những trải nghiệm đa dạng và kích thích bằng cách sử dụng ứng dụng khi có nhu cầu (Lu & Ma, 2018). Thêm vào đó, ứng dụng video dạng ngắn cũng tích hợp các phƣơng thức bán 11 hàng sử dụng nội dung tƣơng tác cao, giao tiếp kết nối trực tiếp với ngƣời tiêu dùng nhƣ livestream (phát trực tiếp), trải nghiệm gian hàng ảo, hoạt động giải trí kết hợp mua sắm nhằm thúc đẩy doanh số.
Cụ thể, ứng dụng video dạng ngắn cung cấp giải pháp quảng cáo tối ƣu với chi phí cho các nhãn hàng bao gồm việc liên kết với KOLs (ngƣời nổi tiếng) tạo ra truyền thông hiệu quả (Haenlein & ctg. Ứng dụng video dạng ngắn cho phép ngƣời dùng tự do sáng tạo nội dung theo sở thích, tạo cơ hội tiếp cận với cộng đồng và thƣơng hiệu cá nhân (Yana, 2021). Do đó, Yaqi và cộng sự (2021) cho biết lƣợng sinh viên dùng ứng dụng video dạng ngắn ngày càng cao và ngày càng có ngƣời xem các video trên đó nhƣ là một hình thức thu giãn và giải trí. Yang và cộng sự (2020) lý giải nội dung video trên ứng dụng video dạng ngắn kích thích não bộ khiến ngƣời dùng tiếp tục tìm kiếm nội dung trên ứng dụng và cuối cùng gia tăng hành vi dùng.
Tuy nhiên, hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu mặc dù ứng dụng rất phổ biến và đƣợc sử dụng nhiều, thực tế các nghiên cứu trƣớc chỉ xác định nhiều yếu tố ảnh hƣởng trực tiếp đến hành vi sử dụng Internet, Facebook, Youtube nhƣng chƣa làm sáng tỏ hành vi sử dụng ứng dụng video dạng ngắn (Hasan & ctg.