Chương 1 LỊCH SƢ̉ HÌNH THÀ NH YÊU SÁCH “ĐƢỜNG LƢỠI BÒ” CỦA TRUNG QUỐC 1. Tổ ng quan về vi tri ̣ ́ điạ lý và địa chiến lƣợc của Biển Đông Theo thông lê ̣ quố c tế , tên của các biể n rià lu ̣c điạ thường dựa vào điạ danh của lu ̣c điạ lớn, nằ m gầ n nhấ t hoă ̣c mang tên của mô ̣t nhà khoa ho ̣c phát hiê ̣n ra chúng. Do nằ m ở phiá Nam của điạ lu ̣c Trung Hoa nên Biể n Đông có tên go ̣i là “South China Sea” (nghĩa là Biển Nam Trung Hoa ). South China Sea cũng là thuâ ̣t ngữ tiế ng Anh phổ biế n nhấ t và là tên go ̣i quố c tế của vùng biể n này [10, tr.
Biể n Đông là vùng biể n có vi ̣trí điạ lý và điạ chiế n lươ ̣c quan tro ̣ng không chỉ đố i với các quố c gia ven B iể n Đông mà đố i với cả các nước khác trên thế giới trong đó có My,̃ Nhâ ̣t Bản, Nga. Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải dài từ vĩ tuyến 3° Bắc lên đến vĩ tuyến 26° Bắc và từ kinh tuyến 100° Đông đến 121° Đông. Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi 9 nước và vùng lãnh thổ khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan. Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân các nước này.
Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Mỹ. Nước ta giáp với Biển Đông ở ba phía Đông, Nam và Tây Nam. Các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là một phần Biển Đông trải dọc theo bờ biển dài 3.260 km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, với nhiều bãi biển tươi đẹp như Trà cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cam Ranh, Vũng Tàu. Như vậy, cứ 100 km2 thì có 1 km bờ biển, tỷ lệ này cao gấp 6 lần tỷ lệ của các nước ven biển trên thế giới (trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền có 1 km bờ biển).
Không một nơi nào trên lục địa của Việt Nam lại cách xa biển hơn 500 km. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở khu vực giữa Biển Đông; các đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa với số lượng lên tới hơn 3000 đảo lớn, nhỏ. Tại hầu hết các đại dương và biển trên thế giới đều tìm thấy 8 dạng địa hình đáy chủ yếu: thềm lục địa, sườn lục địa, chân lục địa, lòng chảo biển, các cung đảo, các rãnh sâu, các đồi ngầm và các dãy núi ngầm. Đáy Biển Đông cũng có những dạng địa hình tương tự.
Trong đó, thềm lục địa Biển Đông chiếm tới hơn 50% diện tích, được phân bố ở độ sâu nhỏ hơn 200m; sườn lục địa chiếm khoảng 25%, diện tích còn lại phân bố ở độ sâu lớn hơn 2.000 m và thuộc lòng chảo trung tâm, các rãnh sâu, các bãi cạn, các cung đảo và các dãy núi ngầm; giữa phần trũng sâu phía Bắc và phía Nam Biển Đông được nối sâu với nhau bằng một máng sâu trung tâm, rìa các trũng sâu là các dãy núi ngầm. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông gồm: tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy-ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu Di Lân; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama đến bờ Đông Bắc Mỹ và Caribe; tuyến Đông Á đi Úc và Niu Di Lân, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới.
Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên [10, tr. Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Kông. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhiều nước ở khu vực Đông Á “có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc.
Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông” [10, tr. “Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 04 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á” [10, tr.23], bao gồm eo Malacca, Lombok, Sunda, Ombai - Wetar.
“Đặc biệt khu vực Biển Đông có eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới” [10, tr. Tại khu vực Biển Đông thường xuyên xảy ra nạn cướp biển và khủng bố trên biển, điển hình là vụ tấn công khủng bố tự sát vào tàu chở dầu của Pháp tháng 10 năm 2002. Do đó, vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế, nhất là đối với Mỹ và Nhật Bản. Biển Đông còn có liên hệ và ảnh hưởng đến khu vực khác, nhất là Trung Đông.
Vì vậy, việc Biển Đông bị một nước hoặc một nhóm nước liên minh nào khống chế sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế của các nước khu vực. “Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông. Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông” [10, tr. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về tài nguyên thiên nhiên và thủy hải sản , Biể n Đông là nơi chứa đựng rấ t nhiề u nguồ n tài nguyên phong phú và thủy hải sản dồ i dào.
Cho đến nay đã phát hiê ̣n đươ ̣c khoảng 11.000 loài sinh vâ ̣t cư trú trong hơn 20 kiể u hê ̣ sinh thái điể n hin ̀ h. Nguồ n tài nguyên sinh vâ ̣t biể n quan tro ̣ng đã mang đế n những ưu thế cho đời số ng xã hô ̣i và sự phát triể n kinh tế của các nước xung quanh. Trữ lươ ̣ng hải sản đánh bắ t khoảng 3-3,5 triê ̣u tấ n , cơ cấ u hải sản rất phong phú , có giá trị kinh tế cao và có thể đánh bắt được quanh năm [10, tr. Dựa trên nghiên cứu khoa học, Biển Đông được đánh giá là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, dồi dào, bao gồm cả tài nguyên sinh vật và phi sinh vật.
Riêng về hải sản, Biển Đông có khoảng 2000 loài cá khác nhau và rất nhiều các loài đặc sản khác như tôm, cua, trai, tảo biển,. Bên cạnh đó, trữ lượng dầu khí tại khu vực Biển Đông rất lớn. Toàn bộ thềm lục địa của Biển Đông được bao phủ bởi lớp trầm tích đệ tam dày, có nơi còn lan sang cả dốc và bờ ngoài của rìa lục địa. Các khu vực có trữ lượng dầu khí lớn là các bồn trũng Bru-nây-Saba, Sarawak, Malay, Phattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Kông, sông Hồng, cửa sông Hậu Giang.
Khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính (Bà Rịa Vũng Tàu) là các khu vực có tiềm năng dầu khí dồi dào nhưng chưa được khai thác. Các mỏ khoáng sản sun phít đa kim, kết cuội sắt mangan tập trung tại khu vực đáy biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhờ địa hình thuận lợi là vùng biển nước sâu rộng lớn nên Biển Đông còn là khu vực được dự báo có nhiều tiền đề thuận lợi cho việc thành tạo và tích tụ băng cháy (khí hydrat). Chính tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là trữ lượng dầu khí dự báo chưa được khai thác ở Biển Đông được coi là nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo này.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Biển Đông có một ý nghĩa và vai trò đặc biệt đối với an ninh quốc phòng của các quốc gia trong khu vực. Với lợi thế là bề mặt rộng lớn, các đảo, quần đảo đóng vai trò quan trọng trong việc phòng thủ bảo vệ Tổ quốc. Đối với Việt Nam, hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có vị trí nằm ngay trung tâm Biển Đông. Do vậy, việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè để phục vụ cho tuyến đường hàng hải có ý nghĩa lớn đối với an ninh quốc phòng.