chương 1 có 2 tiết, chương 2 có 2 tiết và danh mục tài liệu tham khảo. 9 NỘI UNG CHƢƠNG ĐẠO HI U TRONG NHO GIÁO VÀ GI O C ĐẠO Đ C GIA Đ NH 1. Nho giáo và vị trí đạo hiếu trong đạo đức Nho giáo Nho giáo và quá trình phát triển Nho giáo được sáng lập bởi Khổng Tử ở Trung Quốc cách đây hơn 2500 năm. Ông sinh năm 551 TCN, ở nước Lỗ, trong một gia đình quý tộc sa sút.
Khi còn nhỏ, tuy gia cảnh nghèo khó nhưng ông vẫn có điều kiện học sớm và rất ham học. Chứng kiến chế độ tông pháp nhà Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi, Khổng Tử muốn đem tài sức mình ra giúp vua, với hy vọng lập lại trật tự lễ, nghĩa của nhà Chu và cải thiện cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Nhưng không được vua nước Lỗ trọng dụng, ông chu du đến các nước chư hầu với mong muốn được mang lý tưởng cải tạo xã hội ra giúp nước, trị dân, cứu đời nhưng không thành. Cuối đời Ông biên soạn Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.
Đến năm 479 TCN Khổng Tử qua đời. Trong cuộc đời dạy học của mình, những lời dạy của ông đã được các học trò ghi lại và tập hợp lại thành bộ “Luận Ngữ”. Về sau Tăng Sâm đã viết nên cuốn Đại học, học trò của Tăng Sâm là Mạnh Tử đã viết nên cuốn Trung Dung. Sang thời Chiến quốc, Mạnh Tử đã ra sức bảo vệ Nho giáo, thường xuyên tỏ thái độ tôn sùng vương đạo, khinh bỉ bá đạo, tôn sùng nhân, nghĩa, khinh bỉ thói mưu lợi.
Từ những đòi hỏi của thực trạng xã hội lúc bấy giờ, Mạnh Tử đã đề cập đến nhiều vấn đề cụ thể của đời sống chính trị và kinh tế nhiều hơn thầy Khổng Tử. Mạnh Tử đã tập hợp và ghi lại những cuộc biện luận của mình thành tập gọi là “bảy thiên” Mạnh Tử. Mạnh Tử cùng với Luận ngữ, Đại học và Trung dung tập hợp thành bộ Tứ thư và cùng với Ngũ kinh đã trở thành tài liệu chính thức của Nho giáo. Thời Đông Chu kéo dài trong cảnh rối ren, loạn lạc, trước tình hình này đẩy toàn bộ triều đại nhà Chu và hình thái kinh tế xã hội của nó đến chỗ kết thúc.
Thực 10 trạng này đòi hỏi Nho giáo muốn tồn tại và phát triển được thì phải vượt qua khủng hoảng. Thực tế đạo lý Nho giáo không thể chấm dứt được tình trạng loạn lạc. Từ quyền lợi của giới kinh doanh, Tần Doanh Chính đã thống nhất Trung Hoa và xưng hoàng đế. Nho giáo, đạo lý làm vũ khí tinh thần bảo vệ nề nếp thể chế nhà Chu cũng phải chịu sự phán quyết của thế lực đang lên.
Tần Doanh Chính đã ra chủ trương đốt sách, chôn nho sĩ “phần thư khanh nho” đã làm cho Nho giáo phải lao đao khốn đốn. Với những chính sách tàn bạo của nhà Tần đã gặp phải sự lên án và buộc tội của nhiều người, nhất là những thế lực đại biểu cho xu thế mới của xã hội. Lưu Bang đã giành thắng lợi, triều đại nhà Hán bắt đầu. Từ đây Nho giáo bắt đầu dần dần lấy lại ưu thế của mình và trở thành vũ khí tinh thần của nhà Hán.
Triều đại nhà Hán nổi lên một nhân vật quan trọng đó là Đổng Trọng Thư. Ông đã bổ sung vào học thuyết Khổng - Mạnh phần nói về trời đất, quỷ thần, âm dương, ngũ hành mà Khổng Tử, Mạnh Tử cố né tránh hoặc nói sơ qua. Đồng thời hệ thống hóa học thuyết này một cách tương đối hoàn chỉnh, vừa làm cho quân quyền và thần quyền quyện chặt vào nhau. Từ thế kỷ XVI, triều đại nhà Minh, triều đại nhà Thanh gắn với sự tiếp xúc văn hóa phương Tây đã đặt ra những vấn đề không thể giải quyết được dưới ánh sáng của đạo Nho.
Cùng với sự trao đổi hàng hóa, giao lưu văn hóa Đông Tây, các triết lý của các nhà tư tưởng dân chủ. thực tế cuộc sống đã làm nảy sinh trong đầu óc nhà Nho những nỗi băn khoăn khó quyết định. Đến cuối triều đại nhà Thanh một số nhân vật tiêu biểu đã hấp thụ được nhiều tư tưởng mới ở Tây Âu về “tự do”, “bình đẳng”, “dân chủ”. Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu cũng muốn xây dựng và phát triển Trung Quốc theo hướng công nghiệp và chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật, nhưng cuối cùng họ đi đến “cải lương” và “duy tâm” dưới ngọn cờ của hoàng đế triều Thanh.
Mãi cho đến 1911 cách mạng Tân Hợi đã giành thắng lợi, Trung Quốc mới bắt đầu từ vũng bùn phong kiến dần dần bứt lên. Đến đây lịch sử Nho giáo gắn liền với các triều đại phong kiến Trung Quốc cơ bản đã kết thúc, song những ảnh hưởng của nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay. 11 Đạo hiếu trong Nho giáo và vị trí đạo hiếu trong đạo đức Nho giáo Nho giáo là học thuyết chính trị, đạo đức chủ trương dùng lễ trị và đức trị để quản lý xã hội. Nho giáo coi gia đình là một phạm trù lớn, chứa đựng nhiều nội dung thâm thúy, ý nghĩa sâu xa có nhiều ảnh hưởng đến những phạm trù khác về đạo đức và cuộc sống con người.
Trên tinh thần đó, Nho giáo nêu cao nguyên lý thiên hạ quốc gia và dẫn giải rằng: Gốc của thiên hạ là nước, gốc của nước là nhà, gốc của nhà là bản thân (Thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia, gia chi bản tại thân) [6, tr. Chính vì thế, muốn trị nước trước hết phải yên nhà (Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia) [6, tr. Các nho sĩ coi vấn đề “tề gia” là gốc của nước và thiên hạ, muốn “trị nước” trước hết phải giữ yên được nhà. Chủ trương Nho giáo là tìm cách xây dựng gia đình, gia tộc thành những bức tường mạnh mẽ.
Đạo Khổng xem gia đình là một trong ba khâu không thể thiếu của hoạt động con người: Tu thân, tề gia, trị quốc. Bậc quân tử trước hết phải làm cho nhà mình tề chỉnh thì dân chúng mới làm theo, do đó mà tề chỉnh được mọi nhà dân, trị yên được cả nước.“Một nhà nhân hậu thì cả nước dấy lên nhân hậu. Một nhà lễ nhượng thì cả nước dấy lên lễ nhượng” (Nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân; nhất gia nhượng, nhất quốc hưng nhượng) [6, tr. Lễ giáo Nho giáo quy định một cách chặt chẽ các mối quan hệ giữa người với người, trong đó những quan hệ cơ bản nhất là tam cương (quân - sư - phụ) và ngũ luân (vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn - bè), trong các mối quan hệ đó thì đã có ba mối quan hệ trong gia đình.
Trên tinh thần đó, Nho giáo xây dựng nên những mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình.“Cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là gia đạo chính”. Trong ba mối quan hệ (cha con, chồng vợ, anh em) làm nên cái gọi là “gia đạo chính” ấy, thì quan hệ cha con tiêu biểu bằng chữ hiếu, đã được Nho giáo tôn lên rất cao, đặt vào một vị trí đặc biệt quan trọng, trở thành cốt lõi của các quan hệ trong toàn xã hội. Tiếp nối tư tưởng đức trị, Nho giáo rất chú trọng yếu tố giáo dục gia đình, coi giáo dục gia đình là toàn bộ giáo dục xã hội. Khổng Tử quan niệm, đạo đức gắn liền với chính trị, chính trị chẳng qua là sự mở rộng của đạo đức.
Trong học thuyết của 12 ông, đạo đức gắn liền với chính trị, quan hệ chặt chẽ với chính trị, bởi vì nó dựa trên cơ sở huyết thống, lấy huyết thống làm thước đo của nhân ái. Cho nên, quan hệ huyết thống trong gia đình là cơ sở học thuyết nói về người quân tử chú tâm vào gốc rễ, gốc rễ có vững thì đạo mới phát sinh được và hiếu đễ chính là gốc rễ của nhân, là hạt nhân của nội dung giáo dục đạo đức. Xưa nay, chưa một học thuyết nào, một trường phái nào bàn về chữ hiếu một cách sâu sắc, cụ thể và đầy đủ như Nho giáo. Nho giáo có chủ đích rõ ràng trong việc xây dựng những quan hệ chặt chẽ trong gia đình và phát triển chúng thành những quan hệ trong toàn xã hội, trong việc xây dựng những tình cảm và đức tính tốt trong gia đình, từ đó vun đắp chúng trở thành những tình cảm và đức tốt trong đạo thờ vua, trị nước.
Nho giáo vì thế rất coi trọng việc giáo dục đức hiếu cho mỗi thành viên trong gia đình. Trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, chữ hiếu được đề cao và nhấn mạnh. Gia đình trong xã hội phong kiến cũng rất đề cao mối quan hệ này và coi hiếu không chỉ là trách nhiệm mà còn là phẩm chất lớn nhất của đạo làm con. Đạo hiếu trong Nho giáo được xem là một khái niệm đạo đức nền tảng, là cái gốc của mọi vấn đề về đạo đức, chính trị, là chuẩn mực trong xã hội, tiêu chuẩn rèn luyện và đánh giá nhân cách con người và lấy hiếu để buộc người với người.
Hiếu vốn là một nội dung quan trọng của đạo đức gia đình phong kiến, đó là: “Nết đầu trong trăm nết”. Trong hệ tư tưởng Nho giáo, quan niệm hiếu của các Nho sĩ mỗi thời tuy có khác nhau nhưng chung quy lại đạo hiếu được lý giải theo hai nghĩa cơ bản: Đạo hiếu theo nghĩa hẹp, là sự hiếu thuận đối với cha mẹ của con cái, là sự kính yêu, phụng dưỡng cha mẹ, vâng theo di huấn của tổ tiên, thực hiện đầy đủ giỗ… Lòng hiếu của những người cùng huyết thống còn được gắn với đễ, hiếu đễ tức là lòng kính yêu đối với anh chị. Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh sự hiếu thuận đối với cha mẹ và xem đó là một phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người. Ông nói: “Làm cha mẹ, ai cũng lo cho con, sợ con phóng túng mà hư thân mất nết, sợ con theo bạn xấu mà làm chuyện phi pháp, mắc vòng tù tội.
Cho nên đi chơi nhà ai thì nên cho cha mẹ biết 13 trước, phòng khi giao du với kẻ chẳng xứng đáng thì cha mẹ khuyên can” (phụ mẫu tại, bất viễn du; du tất hữu phương) [8, tr.58] hay “Làm con nên xem xét chí hướng của cha. Đến khi cha thác, người con được trọn quyền hành động, cho nên phải nhớ tới những việc làm của cha. Nhưng khi cha thác trong ba năm, bấy giờ người con đương để tang, cho nên chẳng có vui sướng gì mà cải tạo, vì vậy nên được gọi là hiếu” (phụ tại, quan kỳ chí.