Chương 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ 1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI GIAO DỊCH DÂN SỰ 1. Khái niệm giao dịch dân sự Từ thời cổ đại đến nay giao dịch còn được gọi với các tên khác nhau như khế ước, giao ước, hiệp ước. Theo Từ điển tiếng Việt thì giao dịch là sự giao tiếp, tiếp xúc, giao kèo… giữa hai hay nhiều đối tác với nhau.
Hiểu theo khía cạnh pháp lý thì giao dịch chính là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm hướng tới một mục đích làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định. Ngày nay, vị trí và vai trò của giao dịch ngày càng được khẳng định trong các hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật của mỗi quốc gia lại có các cách tiếp cận khác nhau. Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp không đưa ra chế định giao dịch dân sự mà chỉ đưa ra chế định hợp đồng dân sự và chế định thừa kế.
Bộ luật dân sự Nhật Bản đưa ra chế định hành vi pháp lý bao trùm lên chế định hợp đồng và chế định thừa kế theo di chúc. Hầu như pháp luật của các nước đều không quy định cụ thể về khái niệm giao dịch dân sự mà nó chỉ được đề cập đến dưới góc độ khoa học. Theo các nhà khoa học Nhật Bản thì: "Giao dịch dân sự là hành vi hợp pháp nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự" [53, tr. Như vậy, các nhà khoa học Nhật Bản không nêu ra cụ thể các loại giao dịch mà nó là tất cả những hành vi tự nguyện của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự nhằm thu được một kết quả nhất định với điều kiện các hành vi này không trái pháp luật.
Theo pháp luật Việt Nam, trước khi có Bộ luật dân sự 1995 chúng ta chưa có quy định riêng về giao dịch dân sự mà chỉ được đề cập dưới góc độ là hợp đồng dân sự (Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991), hoặc ý chí đơn 10 phương của chủ thể trong việc lập di chúc (Pháp lệnh thừa kế năm 1990). Bộ luật dân sự năm 1995 đã chính thức đề cập đến giao dịch dân sự với quy định cụ thể về khái niệm, điều kiện có hiệu lực của giao dịch, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu… Trong Bộ luật dân sự năm 2005, giao dịch dân sự được quy định trong chương VI, Phần thứ nhất của bộ luật, giao dịch dân sự là hợp đồng được quy định tại Mục 7 Phần 3, giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương được quy định qua các hợp đồng như hứa thưởng, thi có giải. Theo đó, Điều 121 Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự" [35]. Giao dịch dân sự trước hết phải là hành vi do con người tiến hành một cách có ý thức và có mục đích.
Để tham gia vào giao dịch dân sự cụ thể người đó phải có đủ tư cách chủ thể. Tức là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đủ để đảm bảo họ ý thức được họ muốn gì, ý thức được hành vi họ đang tiến hành và chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Nói cách khác, giao dịch dân sự là hành vi có ý chí của chủ thể. Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đa phương (hợp đồng) hoặc đơn phương, tức là một loại sự kiện pháp lý - sự kiện xảy ra trong thực tế mà pháp luật dự liệu, quy định là phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định.
Tùy từng giao dịch dân sự cụ thể, hậu quả pháp lý đó là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể. Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Tóm lại, có thể rút ra một số đặc điểm của giao dịch dân sự như sau: Thứ nhất, giao dịch dân sự phải có ý chí và thể hiện được ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Khi tham gia vào giao dịch dân sự, các chủ thể đều mong muốn đạt được những mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt, tiêu dùng.
Để đạt được mục đích đó, các chủ thể phải thể hiện được ý chí của mình. Khi xác lập giao dịch các bên phải 11 thể hiện ý chí của mình ra bên ngoài và phải có sự thỏa thuận thống nhất những nội dung mà họ đã thể hiện. Nếu các bên không thỏa thuận được thì giao dịch cũng sẽ không được giao kết. Trường hợp giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương mà nội dung chính của giao dịch do một bên đưa ra, tuy bên kia không trực tiếp thỏa thuận nhưng về cơ bản họ phải đồng ý với tất cả nội dung, điều kiện do bên đã đưa ra và tự nguyện tham gia giao dịch.
Thứ hai, sự thể hiện ý chí của các chủ thể trong giao dịch dân sự nhằm hướng tới một hậu quả pháp lý nhất định. Bởi vì không phải bất kì một hợp đồng dân sự hay hành vi pháp lý đơn phương nào cũng được coi là giao dịch dân sự. Chỉ được coi là giao dịch dân sự khi hành vi pháp lý đó phải nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự với chủ thể khác. Thứ ba, mục đích của giao dịch dân sự là những lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch.
Mục đích của giao dịch dân sự chính là hậu quả pháp lý sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Thứ tư, các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện. Sự tự nguyện là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình thiết lập giao dịch.
Đây là sự phản ánh tính thống nhất giữa ý chí và thể hiện ý chí của các chủ thể. Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí cho nên sự tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí, giữa chúng phải có sự thống nhất với nhau. Nếu không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí hoặc không có sự thống nhất giữa hai yếu tố này thì cũng không có sự tự nguyện. Giao dịch dân sự khi vi phạm sự tự nguyện có thể dẫn đến vô hiệu.
Từ những phân tích trên ta có thể kết luận: Giao dịch dân sự là sự thể hiện ý chí một cách tự nguyện của các chủ thể trong khuôn khổ của pháp luật để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự. Qua đó góp phần cho giao lưu dân sự phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội. Phân loại giao dịch dân sự 1. Căn cứ vào sự thể hiện ý chí của chủ thể Căn cứ vào ý chí của chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự được phân thành hai loại đó là: Hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đơn phương.
Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến và thông dụng nhất trong đời sống hàng ngày và chiếm một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Hợp đồng dân sự có thể diễn ra giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với pháp nhân, hay giữa các pháp nhân, tổ chức với nhau. Các bên tự do thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt được mục đích nhất định về vật chất hoặc tinh thần nhưng không trái với pháp luật và đạo đức xã hội của quốc gia mà các chủ thể tham gia hợp đồng chịu sự điều chỉnh. Thông thường hợp đồng dân sự có hai bên tham gia, trong đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong một mối quan hệ cụ thể như mua bán, cho thuê, nhưng cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia như hợp đồng hợp tác.
Mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia như mua bán tài sản chung. Trong hợp đồng, ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí giữa các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng. Do vậy, hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Sự thỏa thuận vừa là nguyên tắc, vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự và được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợp đồng: từ giao kết đến thực hiện hoặc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự.
Sự tự do thỏa thuận giữa các chủ thể trong giao dịch dân sự thường là sự bàn bạc, đi đến thống nhất ý chí của các bên trong việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự nhất định. Việc thỏa thuận này không bị cản trở bởi bất cứ yếu tố nào, trừ trường hợp trái pháp luật và đạo 13 đức xã hội. Ví dụ như khi các bên tham gia kí kết hợp đồng mua bán một chiếc xe máy thì chủ sở hữu và người mua xe có quyền tự do bàn bạc giá cả, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm giao xe… Trên thực tế thì sự tự do thỏa thuận mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ. Bởi lẽ, sự thỏa thuận phải làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên mới hình thành hợp đồng.
Ví dụ lời hứa của cha mẹ với con cái không làm phát sinh hậu quả pháp lý. Thậm chí trong một số trường hợp hành vi thỏa thuận giữa các bên có ý chí làm phát sinh hậu quả pháp lý nhưng sau đó nếu các bên không mong muốn tiếp tục thì hậu quả cũng không xảy ra. Đây là yếu tố quan trọng để xác định sự khác nhau giữa hợp đồng với các quan hệ xã hội khác.