MỞ ĐẦU 1. Bối cảnh Từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới, Việt Nam đã chủ động và tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường tiếp cận thị trường nước ngoài và các nguồn lực quan trọng cần thiết phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam đã ký hiệp định thương mại với Liên minh châu Âu (EU) vào năm 1992, tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN vào năm 1995, trước khi gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) năm 1998. Quá trình hội nhập kinh tế được đẩy nhanh từ năm 2000, Việt Nam và Mỹ ký Hiệp định thương mại song phương, Hiệp định thương mại toàn diện nhất đầu tiên, đưa Việt Nam tiếp cận với các tiêu chuẩn tự do hóa thương mại và đầu tư ở mức cao hơn.
Giai đoạn 2000 - 2006 cũng chứng kiến những nỗ lực mạnh mẽ hơn của Việt Nam hướng tới hội nhập kinh tế đa phương và khu vực. Việt Nam đã chuẩn bị toàn diện cho việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, đồng thời ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) trong khuôn khổ của ASEAN như Hiệp định thương mại tự do ASEAN -Trung Quốc và Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007 tiếp tục củng cố niềm tin của cả cộng đồng nhà đầu tư trong và ngoài nước về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam. Tuy nhiên, gia nhập WTO không phải là điểm kết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
Sau mốc quan trọng này, Việt Nam vẫn đàm phán, ký kết và thực hiện thêm các Hiệp định thương mại tự do ở cấp khu vực như Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Úc - Niu Di-lân, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN -Nhật Bản, Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ. Những nỗ lực khác cũng được triển khai hướng tới thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015. Các FTA này không ngừng được mở rộng cả về 1 chiều rộng và chiều sâu, bao trùm từ thương mại hàng hoá tới thương mại dịch vụ và các vấn đề mới khác như thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ, v. Tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á tháng 11/2012, các lãnh đạo trong khu vực đã nhất trí khởi động đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) là một hiệp định đầy tham vọng hướng tới mục tiêu hình thành quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và 6 đối tác trong khu vực đã ký FTA với ASEAN (ASEAN+1), bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Niu Di-lân và Ấn Độ. Khu vực RCEP dự kiến sẽ là khu vực có dân số lớn nhất với tổng GDP khoảng 19 nghìn tỷ USD. Dựa trên những tiến triển đạt được từ các FTA của ASEAN với từng đối tác, RCEP cũng phù hợp với quan điểm của Việt Nam nhằm theo đuổi hội nhập kinh tế sâu rộng hơn, gắn kết với những cải cách trong nước mạnh mẽ và toàn diện hơn. Sau 8 năm đàm phán, RCEP đã được 15 nước, bao gồm: Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines, Thái Lan, Nhật Bản, New Zealand, Australia, Trung Quốc, Hàn Quốc, ký kết sáng 15/11/2020.
Với Việt Nam, Hiệp định chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2022. Dệt may Việt Nam không chỉ có chỗ đứng nhất định với các thị trường như Hàn Quốc, Hongkong, các nước Đông Âu,… mà còn đang phát triển, thâm nhập và các thị trường lớn khác. Những sản phẩm dệt may “made in Vietnam” mang lại sự uy tín và đang rất thành công trên thị trường quốc tế. Theo báo cáo Appatex Group năm 2019, Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu trong xuất khẩu dệt may trên thế giới với thị phần 35% (2017), Việt Nam vẫn là một trong 5 nước xuất khẩu lớn nhất bao gồm Trung Quốc, EU, Bangladesh, Việt Nam và Ấn Độ.
Thị trường xuất khẩu chính: Mỹ, EU và Nhật Bản. Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là những thị trường nhập khẩu lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt 2 Nam được dự đoán sẽ tiếp tục tăng nhờ hưởng lợi từ các hiệp định FTA và CTTM Mỹ – Trung. Trong năm 2019, ngành dệt may của RCEP đã xuất khẩu 374 tỷ USD (tương đương 50% thị phần thế giới) và nhập khẩu 139 tỷ USD (tương đương 20% thị phần thế giới).
Đặc biệt, các thành viên RCEP đóng vai trò là cơ sở cung ứng hàng may mặc quan trọng cho nhiều thương hiệu thời trang của Mỹ và EU. Đáng chú ý, các thành viên RCEP đã và đang phát triển và hình thành chuỗi cung ứng hàng dệt may trong khu vực. Các thành viên RCEP có nền kinh tế tiên tiến hơn (như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc) cung cấp nguyên phụ liệu dệt may cho các quốc gia kinh tế kém phát triển hơn trong khu vực trong chuỗi cung ứng khu vực này. Việc thực hiện RCEP đi kèm với cả cơ hội và thách thức lớn do quy mô của Hiệp định này là khá rộng.
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Xuất nhập khẩu dệt may trong bối cảnh Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP)” với mong muốn được đóng góp những ý kiến, quan điểm, đưa ra khuyến nghị giúp xuất nhập khẩu của ngành dệt may Việt Nam cải thiện được thích nghi tốt hơn đối với các tác động từ Hiệp định đối tác toàn diện khu vực. Mục tiêu chung Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của Hiệp định RCEP đến xuất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Từ đó sẽ đưa ra những khuyến nghị giúp chính phủ và các doanh nghiệp trong ngành dệt may tận dụng tốt những lợi ích đồng thời ứng phó kịp thời với những thách thức mà Hiệp định RCEP đem đến. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xuất nhập khẩu và sự tác động của hiệp định thương mại tự do đến xuất nhập khẩu hàng dệt may; - Phân tích và đánh giá tình hình xuất nhập khẩu hàng dệt may trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định RCEP; 3 - Đánh giá tác động của Hiệp định RCEP đến xuất nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam; - Đưa ra các khuyến nghị cho chính phủ và các doanh nghiệp để tận dụng được các lợi ích, cơ hội và vượt qua những khó khăn, thách thức mà Hiệp định RCEP mang đến.
Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu này hướng tới hai mục tiêu cụ thể. Một là đánh giá tác động của Hiệp định RCEP đối với nền kinh tế Việt Nam, Hoạt động xuất nhập khẩu của ngành dệt may Việt Nam. Hai là, xác định các bước chuẩn bị cả ở cấp chính sách và doanh nghiệp nhằm đảm bảo rằng việc thực thi RCEP sẽ mang lại lợi ích (ròng) tối đa cho Việt Nam. Câu hỏi 1: Những cam kết nào trong RCEP có liên quan đến ngành dệt may? Câu hỏi 2: Tác động của RCEP có liên quan đến xuất nhập khẩu của ngành dệt may thế nào? Câu hỏi 3.Việt Nam cần thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh xuất nhập khẩu của ngành dệt may Việt Nam? 4.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Xuất nhập khẩu của ngành dệt may Việt Nam đến các nƣớc trong khu vực RCEP. - Phạm vi nghiên cứu: + Về nội dung: Do hạn chế về thời gian, nguồn lực cũng như các yếu tố khác, nên đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về Xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam đến các nước trong khu vực RCEP. + Về thời gian: Kể từ năm Việt Nam đàm phán gia nhập RCEP ( 2015) đến hết năm 2022. + Về không gian: Bao gồm 15 nước tham gia ký kết Hiệp định RCEP: Brunei, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines, Thái Lan, Nhật Bản, New Zealand, Australia, Trung Quốc, Hàn Quốc.
Đánh giá đóng góp của Luận văn - Đóng góp về mặt lý luận: Tổng quan cơ sở lý luận về xuất khẩu Ngành dệt may Việt Nam. - Đóng góp mới về thực tiễn: Làm rõ sự phát triển của xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam, những yếu tố tác động ngành dệt may Việt Nam. Phân tích và đối sánh các hoạt động của Ngành dệt may trên thế giới với Việt Nam để đưa ra các khuyến nghị về chính sách cho chính phủ và doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu Tác giả kết hợp sử dụng đa dạng và linh hoạt các phương pháp nghiên cứu, chủ động thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, áp dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích định tính và phương pháp định lượng.
5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ XUẤT NHẬP KHẨU NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA HIỆP ĐỊNH RCEP 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu lý thuyết về đánh giá tác động của FTA Lý thuyết cân bằng tổng thể và mô hình cân bằng tổng thể CGE (Computable General Equilibrium). Dựa trên lý thuyết của Walras vào năm 1870, mô hình CGE đã được xây dựng để phân tích giá cả và thương mại giữa hai thị trường quốc tế trong mối quan hệ mắt xích nhiều thị trường và nhiều mặt hàng.
Mô hình CGE có thể bao gồm bất kỳ số lượng hàng hóa và quốc gia đối tác hoặc đặc điểm kinh tế nào miễn là không có giới hạn về dữ liệu hoặc bộ nhớ. Các mô hình dựa trên máy tính này thường thực hiện phân tích cân bằng chung với nhiều chiều. Phân tích cân bằng chung xem xét tất cả các tương tác quan trọng giữa các thị trường và có thể đưa ra câu trả lời đầy đủvà chính xác hơn cho các câu hỏi chính sách. Viner (1950) đã nghiên cứu lý thuyết chuyển hướng thương mại và tạo lập thương mại.
Tác giả đã sử dụng phân tích cân bằng từng phần để chứng minh rằng các FTA không phải lúc nào cũng tạo ra lợi thế cho các thành viên như hầu hết các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra. Cụ thể, sự sáng tạo thương mại mang lại những tác động tích cực đến phúc lợi trong khi chuyển hướng thương mại gây ra những tác động tiêu cực và sức mạnh tương đối của hai tác động này sẽ quyết định sự thay đổi về phúc lợi của một hiệp định thương mại. Mô hình cân bằng cục bộ SMART.