chương 1 đến chương 24 (trừ thủy sản) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa 10 (HS). Tất cả các sản phẩm còn lại trong Hệ thống HS được xem là sản phẩm phi nông nghiệp (còn được gọi là sản phẩm công nghiệp). Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO) lại định nghĩa hàng nông sản như sau: “Nông sản hay sản phẩm có nguôn gốc nông nghiệp là bất kỳ sản phẩm hoặc mặt hàng nào, ở dạng thô hoặc đã qua chế biến, được đem ban để phục vụ cho tiêu dùng của con người (ngoại trừ nước, mudi và các chất phụ gia) hoặc dé làm thức ăn cho gia súc ”. Theo Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, nông sản bao gồm các sản phẩm từ hàng hóa chưa chế biến như đỗ tương, ngũ cốc, lúa mỳ, gạo và bông thô đến các thực pham và đồ uống đã được chế biến có giá tri cao như xúc xích, bánh, bia rượu, các đồ gia vị được bán lẻ trong các cửa hàng, tiệm ăn.
Theo quan điểm của liên minh Châu Âu, mặc dù không đề cập đến một định nghĩa cụ thé nao về nông sản, nhưng đã đưa ra một danh sách các mặt hang được coi là nông sản bao gồm: Động vật sống, thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau khi giết mô, sản phẩm từ sữa, các sản phẩm có nguồn gốc động vật, cây sống và các loại cây trồng khác, rau, thâm, củ vả quả có thé ăn được; cà phê, chè, phụ gia và các loại gia vi; ngũ cốc; các sản phẩm xay xát, hạt và quả có dầu; nhựa cánh kiến do, gôm, nhựa cây và các chất nhựa; các loại rau khác; mỡ, dầu động vật hoặc thực vật; các chế phẩm từ thịt; đường và các loại kẹo đường; ca cao và các chế phẩm tỪừ ca cao; các chế phẩm từ ngũ cốc, tinh bột, bột; các chế phẩm từ rau, hoa quả và thực vật; các phụ gia có thể ăn được hỗn tạp; đồ uống, rượu mạnh và giấm; thuốc lá và các sản phẩm tương tự. Từ danh sách các mặt hàng thuộc nhóm nông sản trên của Liên minh châu Âu, quan điểm này có nét tương đồng với quan điểm của WTO. Theo sự phân chia có tính chất tương đối của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2009) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018), nông sản lại được hiểu theo nghĩa rộng hơn bao gồm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), ngư nghiệp, lâm nghiệp và diêm nghiệp. Tổng hợp từ các quan điểm trên, tác giả đã đưa ra định nghĩa nông sản phù hợp với mục tiêu và định hướng nghiên cứu của bài như sau: “Nông sản là sản 11 phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm thành phẩm hoặc bán thành phẩm thu được từ cây trồng, vật nuôi hoặc sự phát triển của cây trông, vật nuôi (không bao gom sản phẩm của ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp)”.
Day là khái niệm rộng và tương đối phức tap, vì thé dé phù hợp với nội dung nghiên cứu, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu với một số mặt hàng nông san cụ thé thuộc nhóm trái cây. Đối với những nội dung cần khái quát chung về nông sản sẽ sử dụng theo khái niệm nông sản (đã trình bày ở trên) kết hợp với cách phân loại hàng hóa của Tổ chức Hải quan thế giới theo Hệ thống Hài hòa mô tả và mã hàng hóa (Harmonized System — HS) nhằm tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế và quản lý điều hành hàng hóa nội địa và quốc tế. Theo cách phân loại này, danh mục được phân loại theo 6 quy tắc cơ bản, hàng hóa được chia thành 99 chương (HS 01 — HS 99). Hàng hóa thuộc 04 phần sau thê hiện hàng hóa nông sản: Bảng 1.1: Phân loại hàng hóa nông sản theo Hệ thống HS STT Phần Chương Tên nhóm sản phẩm 1 Phan 01 HS 01 — HS 05 Động vật sông va các sản phẩm từ động vật 2 Phần 02 HS 06 —- HS 14 Các sản phâm thực vật 3 Phần 03 HS 15 Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật; các sản phẩm lấy từ mỡ hoặc dau 4 Phần04 | HS16—HS24 | Thực phẩm chế biến, đồ uống, rượu mạnh và giam Nguồn: Vii Thanh Huong, 2018 1.
Khái niệm về trái cây và đặc điểm của mặt hang trái cây Trái cây là các sản phẩm từ thực vật và nằm trong nhóm nông sản (Bảng 1. Do vậy, trái cây cũng bao gồm cả những đặc tính của nông sản. Đây là sản phẩm của ngành nông nghiệp và bản chất là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Mặt hàng trái cây được thể hiện qua những đặc điểm sau: Quá trình sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ nông sản luôn mang tính thời vụ bởi các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển theo quy luật sinh vật nhất định.
Mặt khác, do sự biến thiên về điều kiện tự nhiên khí hậu làm cho mỗi loại cây trồng có sự thích ứng riêng, tạo nên những mùa vụ khác nhau trong sản xuất. Vào khoảng thời gian chính vụ, trái cây thường déi dào, phong phú về chủng loại, chất lượng 12 khá đồng đều và giá rẻ, ngược lại, khi trái vụ thi trái cây khan hiếm, chất lượng không đều nhau và giá bán thường cao. Trái cây chịu tác động lớn từ điều kiện tự nhiên, đặc biệt là các điều kiện về đất đai, khí hậu và thời tiết. Đa phần các nông sản đều rất nhạy cảm với các nhân tố ngoại cảnh, do vậy, mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếp tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển bình thường, cho sản lượng thu hoạch cao, chất lượng tốt, ngược lại, nêu điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nắng nóng hoặc giá rét kéo dài gây hạn hán hoặc bão lụt sẽ gây sụt giảm về năng suất và sản lượng cây trồng. Chất lượng trái cây luôn là tiêu chí đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm khi quyết định mua hàng. Tại các quốc gia phát triển, đối với hoạt động nhập khâu nông sản, ngày càng có nhiều yêu cầu khắt khe đặt ra về chất lượng, vệ sinh ATTP (an toàn thực phẩm), kiểm dịch, xuất xứ,. của loại hàng hóa này.
Nguyên nhân chính là do chất lượng của nông sản sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng. Vì vậy, khi đời sống người dân được nâng lên thì chất lượng nông sản cũng cần được cải thiện tương ứng. Trái cây có đặc điểm đa dạng cả về chủng loại và chất lượng, bởi nông sản được sản xuất từ các địa phương khác nhau với các nhân tố về địa lý, tự nhiên khác nhau, mỗi vùng, mỗi hộ dân, mỗi trang trại có phương thức sản xuất khác nhau với các giống trái cây khác nhau cho nên chủng loại cũng khác nhau, trái cây rất dễ bị hư hỏng, âm mốc, biến chất,. Do đó, chỉ cần để một thời gian ngăn trong môi trường không bảo đảm về độ ầm, nhiệt độ, trái cây sẽ bị hư hỏng, giảm chất lượng.
Khái niệm về xuất khẩu trái cây Có nhiều quan điểm khác nhau về xuất khâu hàng hóa. Nhiều công trình nghiên cứu trước đây đã xây dựng khung lý thuyết về xuất khâu hàng hóa nói chung và xuất khâu nông sản nói riêng. Từ những thời kỳ đầu, Adam Smith đã lý giải xuất khẩu hàng hóa được tạo ra là do phân công lao động xã hội dẫn đến chuyên môn hóa sản xuất dé tạo ra một khối lượng hang hóa lớn không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn có thê xuất khâu ra nước ngoài. Từ đó, một quốc gia có thê sản xuât và đem trao đôi những mặt hàng có lợi thê so sánh của mình với một quôc gia 13 khác dé thu được lợi nhuận về cho cả hai quốc gia (David Ricardo, 1817).
Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 28 Luật Thương mại Việt Nam (2005) quy định: “Xuất khâu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thé Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Trong Từ điển Kinh tế học — Đại học Kinh tế Quốc dân, nông sản xuất khâu được định nghĩa là những sản phâm của ngành nông nghiệp được sản xuất dé xuất khẩu, chứ không phải để tự tiêu dùng hay tiêu thụ trên thị trường trong nước (Nguyễn Văn Ngọc, 2006). Dựa trên những quan điểm về xuất khâu hàng hóa và nông sản xuất khẩu, tác giả xác định xuất khẩu nông sản là hoạt động trao đổi nông sản của một quốc gia với các nước khác trên thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thé sin có của đất nước trong phân công lao động quốc tế nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Đặc điểm của xuất khẩu trái cây Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khâu hàng nông sản nói riêng có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khâu là người nước ngoài.
Do đó, khi muốn phục vụ họ, nhà xuất khẩu không thể áp dụng các biện pháp giống hoàn toàn như khi chính phục khách hàng trong nước. Bởi vì, giữa hai loại khách hàng này có nhiều điểm khác biệt về ngôn ngữ, thị hiếu người tiêu dùng, số lượng người tiêu dung, thu nhập của người tiêu dùng,. Điều nay sẽ dẫn đến những khác biệt trong nhu cầu và cách thức thoả mãn nhu cầu. Vì vậy, nhà xuất khẩu cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn để tìm hiểu nhu cầu của khách hàng nước ngoài để đưa ra những hàng hóa phù hợp.
Thứ hai, thị trường trong kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp và khó tiếp cận hơn thị trường kinh doanh trong nước. Bởi vì thị trường xuất khẩu vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia nên về mặt địa lý thì nó ở cách xa hơn, phức tạp hơn và có nhiều nhân tố ràng buộc hơn. Thứ ba, hình thức mua bán trong hoạt động xuất khẩu thường là mua bán qua hợp đồng xuât khâu với khôi lượng mua lớn mới có hiệu quả. 14 Thứ tư, các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như thanh toán, vận chuyền, ký kết hợp đồng,.
đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xuất khâu hàng nông sản và cũng nhập khẩu hàng nông sản do điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng ở các quốc gia là khác nhau.