MỞ ĐẦU 1. “Tính cấp thiết của đề tài” Việt Nam có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản. Trong những năm qua, ngành thủy sản tại Việt Nam đã“đóng góp quan trọng vào”kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước“và được đánh giá”là ngành có nhiều triển vọng phát triển trong thời gian tới. Trong bối cảnh hội nhập, xuất khẩu thủy sản vào các thị trường lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc gặp nhiều khó khăn do vấp phải các rào cản kỹ thuật.
Việc tìm ra thị trường mới, có tiềm năng và triển vọng phát triển xuất khẩu thủy sản là bài toán được đặt ra để đáp ứng mục tiêu xuất khẩu bền vững,“đa dạng hóa thị trường,”khác biệt hóa về sản phẩm thủy“sản xuất khẩu của Việt Nam.” Australia (Úc) là quốc gia thuộc Châu Đại Dương, thuộc khối APEC – khối được đánh giá là”thị trường tiềm năng”về xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản của các nước ASEAN. Tuy“Úc có hệ sinh thái phong phú và độc đáo, thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp và chăn nuôi”nhưng lại không thuận lợi cho phát triển“ngành thủy sản. Sản lượng thủy hải sản (cả nuôi và khai thác)”mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Hằng năm, quốc gia này phải nhập khẩu khoảng 70% thủy sản từ nước ngoài, chủ yếu từ Châu Á để đáp ứng nhu cầu trong nước.
Hiện nay, dân số Úc khoảng“24 triệu người,”dự báo năm 2050“tăng lên 40 triệu người.”Đồng thời, Úc“là một trong những nước có tiêu chuẩn sống cao nhất trên thế giới“với“mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người tăng từ”10 kg/năm (2000-2001) lên khoảng 15 kg/năm (2012-2013) và đạt 18,7 kg/năm (năm 2015). Tuy nhiên, theo khảo sát của Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) tại Báo cáo thị trường thủy sản Australia giai đoạn 2011-2015, mức tiêu thụ bình quân này mới chỉ đạt 60% theo khuyến cáo của các tổ chức y tế của Úc. Dự báo“nhu cầu tiêu thụ thủy sản của Úc sẽ”đạt khoảng 19,6kg/năm vào năm 2021 (mức tăng trưởng dự kiến là 5%/năm), đây sẽ là”thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản”của Việt Nam. 2 “Nuôi trồng thủy sản của khu vực Châu Á phát triển mạnh mẽ“trong nhiều năm qua khiến Châu Á trở thành”các nước“cung cấp thủy sản chủ yếu cho thị trường thế giới trong đó có”Úc.
Việt Nam hiện tại đứng vị trí thứ tư trong số các nước cung cấp thủy sản lớn nhất sang Úc sau Thái Lan, New Zealand và Trung Quốc tuy nhiên mới chỉ chiếm khoảng 12% thị phần nhập khẩu thủy sản của Úc. Trong khuôn khổ khu vực, Việt Nam và Úc đã ký hiệp định thương mại tự do Asean – Australia – New zealand (AANZFTA); đang trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đối tác đã có FTA với ASEAN trong đó có Úc. Đây là cơ hội lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu cũng như quan hệ đối ngoại của cả hai nước Việt Nam - Úc.“Đối với Việt Nam, giữ vững thị phần và phát triển thị phần hàng hóa trong đó có thủy sản tại thị trường Úc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược với sự phát triển kinh tế. Muốn làm được điều này cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa trong đó có thủy sản sang Úc trong thời gian tơ Tuy nhiên, Úc cũng đặt ra nhiều quy định nhập khẩu nghiêm ngặt, đặc biệt là về “vệ sinh an toàn thực phẩm,”nguồn gốc xuất xứ,.vấn đề làm thế nào để“đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Úc”được đặt ra.
Vì“những lý do trên, tác giả chọn đề tài”“Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trƣờng Úc” “làm nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình”. “Tổng quan nghiên cứu” Vấn đề“xuất khẩu thủy sản có vai trò quan trọng”trong“nền kinh tế quốc dân”nên đã “thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả. Theo tìm hiểu của tác giả, đã có nhiều đề tài, luận văn nghiên cứu về xuất khẩu thủy sản nói chung và xuất khẩu thủy sản, có thể kể đến các đề tài như: -“Luận án tiến sĩ kinh tế”của”Nguyễn Xuân Minh”(2006),“Hệ thống giải pháp đồng bộ đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ nay đến năm 2020”, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, đã“đánh giá thực trạng”hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giai đoạn 1990-2006, đề ra“hệ thống giải pháp đồng bộ”nhằm“đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản”của Việt Nam đến năm 2020. Tuy nhiên, phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án là giai đoạn trước năm 2006, phạm vi 3 không gian nghiên cứu của luận án là“xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung”chứ không gắn vào thị trường xuất khẩu cụ thể.
- Bài viết “Quan hệ thương mại Việt – Úc: Thực trạng và giải pháp” đăng trên Tạp chí Công thương, kỳ I, II, số ra tháng 4, năm 2015, nghiên cứu khá rõ nét về thị trường Úc và quan hệ thương mại Việt – Úc nói chung nhưng không gắn cụ thể vào ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. - Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Ngọc Bảo “Thị trường Nhật Bản đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong giai đoạn 2002-2006 và dự báo đến năm 2015” (năm 2007), Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh nghiên cứu và đưa ra dự báo về xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường xuất khẩu truyền thống (Nhật Bản). Sau khi nghiên cứu thực trạng, tác giả cũng“đưa ra một số giải pháp”cụ thể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của“Việt Nam sang thị trường”này. Tuy nhiên, xét tới thời điểm hiện nay, bộ số liệu nghiên cứu đã cũ (thực trạng xuất khẩu giai đoạn 2002-2006, dự báo năm 2015) nên không còn phù hợp.
Như vậy, mặc dù các đề tài trên đã nghiên cứu về xuất khẩu thủy sản của Việt Nam theo các góc độ khác nhau, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Úc. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Úc”“làm nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở vận dụng“cơ sở lý luận”để“phân tích, đánh giá thực trạng”hoạt động“xuất khẩu thủy sản của Việt Nam”sang thị trường Úc, tác giả đề xuất một số“giải pháp nhằm”đẩy mạnh“xuất khẩu thủy sản”của Việt Nam vào“thị trường”này trong“thời gian tới.“Đối tƣợng và phạm vi”đề tài“nghiên cứu” 4.1“Đối tượng nghiên cứu:“hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.2“Phạm vi nghiên cứu” Phạm vi không gian: nghiên cứu“hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam”sang“thị trường”Úc. 4 Phạm vi thời gian:“tập trung nghiên cứu”thực trạng xuất khẩu thủy sản“của Việt Nam”sang thị trường”Úc giai đoạn 2012-2016 và kiến nghị“giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản của Việt Nam”vào“thị trường này“đến năm 2020.” Giác độ nghiên cứu của luận văn là vĩ mô, trong đó chủ thể thực hiện các giải pháp là phía Nhà nước.
Phƣơng“pháp nghiên cứu” “Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu”truyền thống như“thống kê, so sánh,”đối chiếu và tổng hợp. Kết cấu đề tài Ngoài phần“mở đầu và kết luận,”đề tài“được kết cấu thành 3 chương:” “Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu thủy sản của một quốc gia” “Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trƣờng Úc”giai đoạn 2012-2016 Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu“thủy sản của Việt Nam sang thị trƣờng”Úc 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA MỘT QUỐC GIA 1.1 Khái niệm và các hình thức xuất khẩu thủy sản chủ yếu 1.1 Khái niệm về xuất khẩu và xuất khẩu thủy sản Để nghiên cứu xuất khẩu thủy sản của một quốc gia, trước hết cần tìm hiểu về xuất khẩu; vai trò của xuất khẩu; vai trò, đặc điểm của ngành thủy sản và xuất khẩu thủy sản. Xuất khẩu: là một trong hai lĩnh vực của hoạt động ngoại thương. Theo“lý luận thương mại quốc”tế, xuất khẩu“là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước”ngoài.
Theo“cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế”theo Quỹ Tiền tệ quốc tế,“xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước”ngoài.” “Xuất khẩu là một trong”hai“hoạt động kinh tế”cơ bản của“một quốc gia,’tạo ra“nguồn thu, chi ngoại tệ chủ yếu của một”quốc gia“khi tham gia vào hoạt động kinh tế quốc”tế. Trước kia, hoạt động xuất khẩu”còn sơ khai“chỉ là hàng đổi hàng, sau”này xuất khẩu được phát triển với nhiều hình thức đa dạng hơn như xuất khẩu trực tiếp, buôn“bán đối lưu, xuất khẩu ủy”thác. Tuy nhiên, dù là hình thức nào, tất“cả các hoạt động trao đổi”cũng nhằm mục tiêu lợi nhuận. - Vai trò của xuất khẩu: “Xuất khẩu có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia”đặc biệt là quốc gia có cầu nội địa yếu: Xuất khẩu giúp mỗi quốc gia khai thác lợi thế của mình,“tạo ra“sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng”với các quốc gia khác.“Bằng việc khai thác các lợi thế”của mình,“các quốc gia có thể“tập trung vào sản xuất, xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế”so sánh.“Sự chuyên môn hóa”trong sản xuất và xuất khẩu sẽ góp phần tiết kiệm chi phí cho mỗi quốc gia.
Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, xuất khẩu“tạo nguồn vốn chính cho”hoạt động“nhập khẩu, phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa”bên cạnh 6 nguồn vốn đi vay, vốn“viện trợ, đầu tư nước ngoài.”Nguồn vốn từ hoạt động xuất khẩu đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh từ năm 2010, Việt Nam không còn nằm trong danh sách những nước nghèo nữa mà đã trở thành nước có thu nhập trung bình, sẽ không còn được vay vốn ODA với nhiều ưu đãi Xuất khẩu còn“góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sẽ giúp các nước kém phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới.”Khi xuất khẩu phát triển“sẽ tạo cơ hội phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ như công nghiệp chế biến, sản xuất nguyên vật liệu phụ trợ,…. Xuất khẩu“tạo điều kiện”mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước,“mở rộng thị trường”tiêu thụ, có vai trò lớn trong việc đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất. Ở phạm vi nhỏ hơn, đối với một doanh nghiệp, ngoài việc thu ngoại tệ để tái sản xuất, tái đầu tư, xuất khẩu giúp họ có cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, là động lực để mỗi doanh nghiệp sản xuất trong nước luôn cải tiến thiết bị, máy móc, trình độ, tay nghề, tiếp thu“khoa học công nghệ để”nâng cao chất lượng sản phẩm.” Xuất khẩu có tác động tích cực đến vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và“cải thiện đời sống“nhân dân.