Chương 1. Tổng quan nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của đề tài. Cơ sở lý thuyết Nội dung chương 2 trình bày tổng quan về các khái niệm, các nghiên cứu liên quan đến đề tài trước đây trong và ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia xuất khẩu lao động. Đưa ra giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương 3 trình bày về quy trình nghiên cứu, chọn mẫu nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng để kiểm định các thang đo trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Ở chương 4, tác giả phân tích các thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy của các thang đo, các giả thuyết nghiên cứu, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu. Kết luận và hàm ý Sau khi thực hiện quá trình nghiên cứu, tiến hành tóm tắt kết quả nghiên cứu và từ đó đề xuất các hàm ý quản trị. Đồng thời, tác giả trình bày những đóng góp và hạn chế cho những đề tài nghiên cứu trong tương lai.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài 2.1 Khái niệm lao động Lao động là sự vận động của con người trong quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần. Lao động còn là một quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất (Lê Văn Tùng, 2019). Lao động cũng được Hồ Quốc Tuấn (2023) định nghĩa là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào những vật thể tự nhiên nhằm cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ cho nhu cầu của con người (Hồ Quốc Tuấn, 2023). Ngoài ra, theo Kimberly Amadeo (2021) lao động là sự nỗ lực về thể chất, tinh thần và xã hội được sử dụng để sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế (Kimberly Amadeo, 2021).2 Khái niệm sức lao động Trong kinh tế Chính trị Mác-Lenin, Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó (PGS.TS Ngô Tuấn Nghĩa, 2019).
Sức lao động được Lê Văn Tùng (2019) định nghĩa đó là sự tổng hợp về thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, phản ánh khả năng lao động của con người. Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó không chỉ có sự khác biệt với những loại hàng hóa thông thường, đó là khi sử dụng nó sẽ tạo ra một hàng hóa có giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, mà còn được thể hiện ở chất lượng hàng hóa phụ thuộc chặt chẽ vào các nhân tố mang tính đặc thù (Lê Văn Tùng, 2019). Sức lao động là khái niệm quan trọng trong kinh tế học Marxist và là yếu tố then chốt của lý thuyết đề cập đến khả năng con người làm việc và tạo ra giá trị cho xã hội. Tuy nhiên, năng lực này không phải là phẩm chất tự nhiên hay bẩm sinh của cá nhân mà là một cấu trúc xã hội được hình thành bởi các yếu tố văn hóa, lịch sử.
Nói cách khác, sức lao động không phải là một thực thể cố định hay tĩnh mà là một thực thể động, phát triển và có thể thay đổi theo thời gian (FasterCapital, 2023).3 Khái niệm nguồn lao động Nguồn lao động được định nghĩa là nguồn lực về con người bao gồm số lượng dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động. Nguồn lao động được xem xét dựa vào các khía cạnh khác nhau: đầu tiên là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, tiếp theo là xét về khía cạnh kinh tế - xã hội, nguồn lao động là khả năng lao động của xã hội (Lê Văn Tùng, 2019). Theo ông Hoàng Ngọc Hải (2018), nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân (Hoàng Ngọc Hải, 2018).4 Khái niệm xuất khẩu lao động Theo Lê Văn Tùng (2019) xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động. Trong nền kinh tế thị trường, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đối ngoại, mang đặc thù của xuất khẩu nói chung, thực chất xuất khẩu lao động là một hình thức di cư quốc tế (Lê Văn Tùng, 2019).
Xuất khẩu lao động là hoạt động cung ứng hàng hóa sức lao động từ một nước cho nhu cầu sử dụng ở các nước và vùng lãnh thổ khác theo cơ chế thị trường, trên cơ sở thỏa thuận mua bán hàng hóa sức lao động giữa người lao động trong nước với người sử dụng lao động ở nước ngoài (Lưu Văn Hưng, 2018). Ngoài ra có thể hiểu xuất khẩu lao động là quá trình người lao động đi làm việc tại một quốc gia nào đó không phải ở quê hương, đất nước của mình. Xuất khẩu lao động có thể giúp cho người lao động có nhiều cơ hội việc làm mới để kiếm thêm thu nhập, học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ nhiều quốc gia khác nhau cũng như được tiếp cận với nền khoa học hiện đại hơn (Lê Bửu Yến, 2023).5 Khái niệm thị trường lao động Phan Thị Huyền Trân (2023) định nghĩa thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa sức lao động giữa hai bên, một bên là những người cần thuê sức lao động và bên còn lại là những người sở hữu sức lao động. Thị trường lao động cũng chịu sự tác động ảnh hưởng của quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh và quy luật độc quyền (Phan Thị Huyền 10 Trân, 2023).
Thị trường lao động là thị trường lớn và quan trọng nhất trong hệ thống thị trường. Vì lao động là hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất và kết quả của quá trình trao đổi việc làm được trả công. Thị trường lao động là một bộ phận không thể tách rời trong nền kinh tế thị trường và chịu sự tác động của hệ thống quy luật của nền kinh tế thị trường. Một thị trường lao động tốt là thị trường mà ở đó lượng cầu về lao động tương ứng với lượng cung lao động (Lê Văn Tùng, 2019).6 Các hình thức xuất khẩu lao động phổ biến ở Việt Nam Theo tác giả Lê Văn Tùng (2019) đã đề cập một số hình thức phổ biến ở Việt Nam như sau: - Cung ứng lao động trực tiếp cho các doanh nghiệp nước ngoài theo yêu cầu thông qua hợp đồng được ký kết bởi các doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ cung ứng lao động.
- Hợp tác lao động và chuyên gia: Hình thức này được áp dụng đối với các nước Trung Đông và Châu Phi trong việc cung ứng lao động và chuyên gia đến làm việc tại một số nước. Những lao động này có thể đi theo đoàn, nhóm hoặc cá nhân… - Đưa lao động đi học nghề, nâng cao trình độ tay nghề và làm việc tại nước ngoài. Hình thức này được nhà nước thực hiện chủ yếu trong giai đoạn từ 1980 – 1990, áp dụng cho lao động nghề và lao động không có nghề. - Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở nước ngoài.
Các doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh. Doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam sẽ tuyển chọn lao động nhằm thực hiện các hợp đồng kinh tế, liên doanh, liên kết giữa Việt Nam và nước ngoài (Lê Văn Tùng, 2019).2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 2.1 Các nghiên cứu trong nước 2.1 Mô hình quyết định của người lao động khi tham gia xuất khẩu lao động (Trần Nguyễn Thị Yến & cộng sự, 2022) Trong bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của người lao động tại Hải Dương khi tham gia xuất khẩu lao động sang thị trường Nhật Bản”, nhóm tác giả đã tiến 11 hành nghiên cứu để nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người lao động tham gia xuất khẩu lao động Nhật Bản nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định của người lao động. Qua đó, nhóm tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách cho các đơn vị làm dịch vụ xuất khẩu lao động trên địa bàn tỉnh Hải Dương (Trần Nguyễn Thị Yến & cộng sự, 2022). Thủ tục hồ sơ H1 Đào tạo H2 H3 Quyết định của người lao Điều kiện làm việc động khi tham gia XKLĐ sang thị trường Nhật Bản H4 tại Hải Dương Thu nhập H5 Công việc Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu quyết định của người lao động khi tham gia xuất khẩu lao động Nguồn: Trần Nguyễn Thị Yến & cộng sự (2022) Nghiên cứu này tiến hành điều tra 150 người lao động và số phiếu trả lời hợp lệ đã thu về là 146 phiếu, đảm bảo mô hình hoạt động có ý nghĩa.
Kết quả xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha của tất cả các nhóm đều lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Cho thấy các khái niệm nghiên cứu là phù hợp và đáng tin cậy. Tiếp theo, kết quả kiểm định hệ số KMO = 0,838 > 0.5, kết quả Bartlett’s là 1589,227 với mức ý nghĩa Sig = 0,000 < 0,05, tổng phương sai trích đạt 69,39% > 50%, cho thấy sự phù hợp của các nhân tố trong mô hình. Các yếu tố trong mô hình đều đạt tiêu chuẩn khi đánh giá mức độ đồng ý của người lao động khi tham gia xuất khẩu lao động.