Luận văn thạc sĩ xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang EU - Hà Thị Thanh Thủy

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang EU. Phân tích thực trạng, cơ hội và giải pháp phát triển thương mại với thị trường châu Âu.

Chuyên ngành

Kinh tế Đối ngoại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Đối ngoại

2006

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU hiệu quả

Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU đóng vai trò then chốt trong chiến lược hội nhập kinh tế toàn cầu. Từ năm 1995 đến 2005, kim ngạch xuất khẩu sang EU tăng trưởng ổn định, phản ánh tiềm năng lớn của thị trường này. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả, doanh nghiệp cần hiểu rõ thị trường EU, rào cản kỹ thuật, quy tắc xuất xứ, và tiêu chuẩn môi trường. Theo luận văn thạc sĩ của Hà Thị Thanh Thủy (2006), EU không chỉ là thị trường tiêu thụ lớn mà còn đặt ra yêu cầu khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm xã hội. Do đó, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU không chỉ là vấn đề thương mại mà còn liên quan đến năng lực thích ứng với tiêu chuẩn quốc tế. Việc tích hợp các yếu tố như minh bạch pháp lý, cải tiến công nghệ và nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng sẽ quyết định thành công lâu dài.

1.1. Tổng quan về thị trường EU và cơ hội cho hàng hóa Việt Nam

Thị trường EU gồm 27 quốc gia thành viên với hơn 440 triệu dân và GDP bình quân đầu người cao. Đây là một trong những thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới. Hàng hóa Việt Nam như dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê và đồ gỗ đã có chỗ đứng nhất định. Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan (2005), EU chiếm khoảng 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, cơ hội đi kèm thách thức: EU áp dụng quy chế nhập khẩu chung nghiêm ngặt, đặc biệt về an toàn thực phẩm và bảo vệ người tiêu dùng. Do đó, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ đặc điểm thị trường EU để xác định mặt hàng phù hợp và chiến lược tiếp cận hiệu quả.

1.2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động xuất khẩu sang EU

Cơ sở pháp lý cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU bao gồm Hiệp định Hợp tác khung Việt Nam – EU (1996) và các cam kết trong khuôn khổ WTO. Các văn bản này tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại song phương, đồng thời yêu cầu Việt Nam điều chỉnh hệ thống luật pháp phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Đặc biệt, quy tắc xuất xứ (Rules of Origin) và rào cản kỹ thuật (TBT) là hai yếu tố then chốt. Doanh nghiệp phải chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu và đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của EU để được hưởng ưu đãi thuế quan. Việc thiếu hiểu biết về khung pháp lý này có thể dẫn đến rủi ro pháp lý và mất cơ hội thị trường.

II. Thách thức khi xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU

Mặc dù tiềm năng lớn, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Các rào cản kỹ thuật, yêu cầu về môi trường, và trách nhiệm xã hội (CSR) ngày càng khắt khe. Theo hội thảo do Đại học Ngoại thương tổ chức (2001), doanh nghiệp Việt Nam thường thiếu thông tin thị trường, năng lực tài chính hạn chế và chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt, quy tắc xuất xứtiêu chuẩn REACH (hóa chất) hoặc RoHS (thiết bị điện tử) là những rào cản phổ biến. Ngoài ra, sự cạnh tranh từ Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN cũng làm giảm lợi thế giá của hàng Việt. Những yếu tố này đòi hỏi giải pháp đồng bộ từ cả phía nhà nước và doanh nghiệp.

2.1. Rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng của EU

EU áp dụng hệ thống rào cản kỹ thuật (TBT) và biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) rất nghiêm ngặt. Hàng hóa nông sản, thực phẩm, dệt may và đồ chơi trẻ em phải đáp ứng các tiêu chuẩn về dư lượng hóa chất, an toàn sinh học và ghi nhãn. Ví dụ, thủy sản xuất khẩu phải có chứng nhận HACCP, trong khi đồ gỗ cần chứng minh nguồn gốc hợp pháp theo quy định FLEGT. Nhiều lô hàng Việt Nam bị trả về do không đạt chuẩn, gây thiệt hại lớn. Do đó, nâng cao năng lực kiểm địnhxây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc là điều kiện tiên quyết để thâm nhập EU.

2.2. Khó khăn từ phía doanh nghiệp Việt Nam

Đa số doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, thiếu nguồn lực để đầu tư công nghệ và đáp ứng tiêu chuẩn EU. Nhiều đơn vị chưa hiểu rõ quy định nhập khẩu của EU, dẫn đến sai sót trong khai báo hải quan hoặc chứng từ xuất xứ. Ngoài ra, khả năng tiếp cận thông tin thị trường còn hạn chế, khiến chiến lược xuất khẩu mang tính tự phát. Theo Vũ Chí Lộc (2004), chỉ khoảng 20% doanh nghiệp xuất khẩu sang EU có hệ thống quản trị chất lượng theo ISO. Điều này cho thấy khoảng cách lớn giữa năng lực thực tế và yêu cầu thị trường.

III. Phương pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU

Để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU, cần tiếp cận đa chiều: cải cách thể chế, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh. Luận văn của Hà Thị Thanh Thủy (2006) đề xuất ba nhóm giải pháp chính: (1) Hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với chuẩn mực EU; (2) Tăng cường thông tin thị trường và hỗ trợ kỹ thuật; (3) Xây dựng thương hiệu quốc gia cho hàng hóa Việt. Đặc biệt, hiệp định EVFTA (dù chưa có vào năm 2006) sau này đã mở ra cơ hội lớn nhờ xóa bỏ 99% dòng thuế. Tuy nhiên, ngay từ giai đoạn đầu, việc chuẩn bị năng lực đáp ứng tiêu chuẩn EU là yếu tố then chốt để tận dụng ưu đãi.

3.1. Cải cách hành chính và pháp lý hỗ trợ xuất khẩu

Nhà nước cần tiếp tục cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục hải quan và cấp phép xuất khẩu. Đồng thời, hệ thống luật pháp về sở hữu trí tuệ, bảo vệ người tiêu dùng và môi trường cần được điều chỉnh theo hướng phù hợp với luật quốc tế. Việc thành lập các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp về quy tắc xuất xứtiêu chuẩn EU sẽ giúp giảm rủi ro pháp lý. Theo đề xuất của Lê Thị Ngọc Lan (2006), cơ quan chức năng nên tổ chức thường xuyên các khóa đào tạo về quy định thị trường EU cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

3.2. Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh

Doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ sản xuất sạch, hệ thống quản lý chất lượngtruy xuất nguồn gốc. Nhà nước có thể hỗ trợ thông qua chính sách tín dụng ưu đãi, quỹ phát triển xuất khẩu hoặc chương trình liên kết với viện nghiên cứu. Ngoài ra, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm như cà phê, hồ tiêu, dệt may sẽ giúp hàng Việt vượt qua cạnh tranh giá và tạo giá trị gia tăng. Việc tham gia hội chợ thương mại EU và kết nối với nhà phân phối địa phương cũng là chiến lược hiệu quả để mở rộng thị phần.

IV. Ứng dụng thực tiễn Xuất khẩu hàng may mặc và thủy sản sang EU

Hai ngành hàng tiêu biểu trong xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EUdệt maythủy sản. Giai đoạn 2000–2005, dệt may chiếm hơn 30% kim ngạch xuất khẩu sang EU, nhưng tăng trưởng không ổn định do phụ thuộc vào hạn ngạch và biến động chính sách. Sau khi dỡ bỏ hạn ngạch (2005), ngành này đối mặt với cạnh tranh khốc liệt. Trong khi đó, thủy sản Việt Nam – đặc biệt là tôm và cá tra – được ưa chuộng nhờ chất lượng và giá cả cạnh tranh. Tuy nhiên, nhiều lô hàng bị từ chối do không đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Các nghiên cứu của Phạm Văn Minh (2006) nhấn mạnh rằng chỉ những doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi giá trị bền vững mới duy trì được thị phần lâu dài tại EU.

4.1. Thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam sang EU

Sau khi hạn ngạch dỡ bỏ, ngành dệt may Việt Nam gặp khó do thiếu nguyên liệu trong nước và phụ thuộc vào nhập khẩu vải. Nhiều doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu CSR như điều kiện lao động, dẫn đến mất đơn hàng. Tuy nhiên, những đơn vị đầu tư vào sản xuất xanhchứng nhận BCI (Better Cotton Initiative) đã thành công trong việc giữ chân khách hàng EU. Điều này cho thấy xu hướng xuất khẩu bền vững đang trở thành yếu tố sống còn.

4.2. Cơ hội và rủi ro trong xuất khẩu thủy sản sang EU

EU là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ hai của Việt Nam. Tuy nhiên, tiêu chuẩn SPS về dư lượng kháng sinh và kim loại nặng là rào cản chính. Doanh nghiệp cần áp dụng hệ thống HACCPchứng nhận MSC/ASC để đáp ứng yêu cầu. Một số công ty như Minh Phú, Vĩnh Hoàn đã thành công nhờ đầu tư vào nuôi trồng bền vữngtruy xuất điện tử. Đây là mô hình đáng học hỏi cho các ngành hàng khác.

V. Tương lai của xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU

Tương lai của xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU phụ thuộc vào khả năng thích ứng với xu hướng thương mại xanh, số hóachuỗi cung ứng bền vững. Dù luận văn năm 2006 chưa dự báo được EVFTA, nhưng các khuyến nghị về nâng cao tiêu chuẩn và năng lực doanh nghiệp vẫn còn nguyên giá trị. Trong bối cảnh EU siết chặt quy định về carbon (CBAM) và trách nhiệm chuỗi cung ứng (CSDDD), hàng hóa Việt Nam phải nhanh chóng chuyển mình. Cơ hội nằm ở những ngành có lợi thế như nông sản hữu cơ, năng lượng tái tạosản phẩm công nghệ xanh. Sự phối hợp giữa nhà nước, hiệp hội và doanh nghiệp sẽ quyết định vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

5.1. Xu hướng thị trường EU và cơ hội mới cho hàng Việt

EU đang thúc đẩy chuyển đổi xanhkinh tế tuần hoàn. Điều này mở ra cơ hội cho hàng hóa hữu cơ, vật liệu tái chếsản phẩm thân thiện môi trường từ Việt Nam. Các mặt hàng như cà phê Fair Trade, điều nhân hữu cơ hay đồ gỗ FSC có tiềm năng lớn. Doanh nghiệp cần chủ động chứng nhận xanh và tham gia các chuỗi cung ứng bền vững để đáp ứng xu hướng tiêu dùng mới.

5.2. Vai trò của EVFTA và hội nhập sâu rộng

Mặc dù không có trong tài liệu gốc, Hiệp định EVFTA (2020) đã trở thành động lực mạnh mẽ cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường EU. 99% dòng thuế được xóa bỏ, nhưng đi kèm là yêu cầu cao về xuất xứ thuần túyminh bạch chuỗi cung ứng. Do đó, doanh nghiệp cần tận dụng ưu đãi bằng cách nội địa hóa nguyên liệusố hóa quy trình sản xuất. Đây là chìa khóa để biến thách thức thành cơ hội trong thập kỷ tới.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ xuất khẩu hàng hoá của việt nam sang thị trường eu

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của để tài Xuất khâu là mũi nhọn rong quả trình thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hưởng vẻ xuất khẩu của Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thử IX của Đảng nhận mạnh: “Việt Nam chủ động và tích cực thâm nhập thị trường quốc tổ, chủ trọng thu trường các trung tâm kinh tế thế giới, duy trì và mở rông các thị trưởng quen thuộc, tranh thú mọi cơ hội mở thị trưởng mới”. ‘Theo tinh than dé, LU được xác đình là một thị trường tiểm năng quan trọng trong chiến lược mổ rộng thi trường xuất khâu của Việt Nam.

TU khêng những là một tổ chức khu vực lớn nhất thế giới (gồm 25 quốc gia thành viên) mà còn là một trong ba trung tâm kinh lễ quan trọng hàng đầu thế giỏi (loa Ky, LU, Nhật Hán). Mặt khảe, với khoáng 500 triệu dân, mức thu nhập bình quân là 28.100 USD/người/năm hiện EU là thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới. Vi vậy, mở rộng xuất khẩu sang thị rường EU là một hưởng di đúng đẫn, góp phan tao nên sự tăng trưởng én định về ngoại thương dối với tất cả các quốc gia không ngoại trừ Việt Nam. Hơn nữa, những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam lại phủ hợp với cơ cấu nhập hàng của thị trường EU như đệt may, thuỷ hải sản, giày dép, cả phê.

cho nên mớ rộng xuất khẩu sang thị trường EU không chỉ là vẫn để cập bach trước mắt mả cỏn là vận đề cần thiết lâu dài đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Tgày 22/10/1990, Việt Nam chính thúc thiết lập quan hệ ngoại giao với công dễng Châu Âu (BC), tiếp theo do lá việc ký hiệp dịnh buôn ban hang dét may với liên minh Châu Âu (EU) vào ngày 15/12/1992 và ký hiệp định hợp tác vải EU vào ngay 17/7/1995, mỡ ra những cơ hội lớn về thị rường cho các doanh nghiệp xuất khâu cúa Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu cua Việt Nam sang HUI tăng trung binh là 29,17%/măm thời kỳ 1995-2005. Mặc dù kim ngạch xuất khả tầng nhanh nhưng Mục dich nghiên cửu của luận văn là phản tích thực trạng xuất khẩu hàng, hoá của Việt Nam tại thị trường DU trên co sở đó để xuất một số giải pháp nhằm.

thúc đấy hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU. Để dạt dược mục dich nghiên cứu trên, luận vẫn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau Thử nhất, phân tich cơ sở của hoạt dộng xuất khẩu hang hod của Việt Nam sang thị trường DỮ. Thứ hai, nghiên cứu và đánh giá thực trạng của xuất khẩu hàng hoá của Nam sang thị trường EU. Thứ ba, trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng để xuất một số giải phap về phía nhả nước, về phía doanh nghiệp, giải pháp đổi với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu bàng hoá của Việt Nam sang thị trường EL.

4, Đối lượng và phạm vì nghiền cứu. Đôối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trưởng EU, Phạm vi nghiên cứu của luận văn: -Không gim nghiên cứu: Thị trường EU-25 “thời gian nghiên cứu ; 'Từ năm 1995 đến năm 2005 5. Phương pháp nghiên cứu. Đề thực luện dễ tải, luận văn sử dạng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp đuy vật lịch sử, phương pháp thẻng kê, phản tích, tống hợp, nghiên cứu so sánh kết hợp với phân tích.

CHUONG 1 CG SO CUA HOAT DONG XUAT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT NAM SANG TIT. Cơ sử thực tiễn của hoạt dộng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU Xuất khâu co vai tro dic biệt quan trọng dỗi với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Xuất khẩu tạo ra nguồn vén [én 48 théa min nhu cầu nhập khẩu, góp phân tăng tích lũy vốn để mở rộng sẵn xuất, tầng thu nhập cho nên kinh tẻ. Xuất khâu kích thích sự tăng trưởng kinh tế một cách bên vững, kích thích đối mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất.

Quan trọng hơn, xuất khâu piúp cho các qnỗe gia khai thác có hiện quả và triệt để nhất lợi thế so sánh của mình khi tham. gia thương mại quốc tế, làm thay đối cơ câu kinh tổ ngành theo hướng sử dụng và phát huy có hiệu quả nhật lợi thế so sánh. Ngoài ra, xuất khẩu côn đâm bão sự cân đối rong cán cân thanh toán và cáu cân buôn bản quốc tế, giảm nhập giêu, tạo việc làm, nâng cao mức sống cho người dân, dây nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc lồ, nâng vị thé cũa quốo gia trên trường quốc tẾ Như vậy, để phát triển kinh tế Việt Nam không thể không đây mạnh xuất khẩu. Song vẫn dé đặt ra là Việt Nam nên xuất khẩu cải gì, xuất khẩu tới thị trường nảo và xuất khẩu theo hình thức nào để có hiệu quả nhất? Theo tinh thin “Chi trọng thị trường cáo trung tâm thé giới” được nhân mạnh trong văn kiện của đại hội Dảng TX, bên canh My, Nhat Ban, Trung Quéc, EU được xem là đối tác thương mại, là thị trường xuất khâu quan trọng hàng đầu của Việt Nam.

văn chưa tương xửng với tiểm lực của hai bên. Kin ngạch thương mại hai chiều mới chi chiém khoang 17% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và 0,07% tổng kim ngạch nhâp khâu của EU. Hâu hết các mặt hảng xuất khẩn quan trọng của Việt Nam dều gặp trở ngại khi thêm nhập vào thị trường EU vỉ dây là thị trường khó tính, tên tại nhiêu rào cản kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu. Mặt khác, vị EU là thi trường hấp dẫn với dung lượng lớn và khả năng tưmh toán nhanh niên tuức độ cạnh tranh của hàng hoả xuất khẩu rất gay gat.

Hang xuất khẩu của Việt Nam phải đối mặt với hàng hoá cùng loại đến từ nhiêu quốc gia khác nhau trong đó có những quốc gia hơn hẳn Việt Nam về lợi thế so sánh như Trmg Quá và THỘI SỐ TrưỚC AREAN khác. hư vậy, bên cạnh co hội lớn về thị trường, xuat khâu hang hoá sủa Việt Nam sang thị trưởng EU côn phải dỗi mặt với rất nhiều thách thức, Vân dé dat ra la làm thê nào để lệt Nam cỏ thể hoá giải được những thách thúc, biến thách thúc thành cơ hội, tạo mệt chỗ đứng vững chấ. lầu dài cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam tại thủ trường EU, Đánh giá thị trường, phân tích thục trạng của hoạt đông xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường BU để từ đó để xuất những giải pháp nhằm thúc đây xuất khẩu bàng hoa cia Việt Nam sang thị trường này là một việc làm cần thiết, Vì vậy, “Xuất khẩn hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU” là một đề tài có giá trị thực tiễn đổi với các doanh nghiệp xuât khâu của Việt Nam khi thâm nhập vào thị trường HU trong thời điểu: hiện nay. Tỉnh hình nghiên cúu.

EU là một thị trường cỏ vị trí quan trọng, đói với xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Do vậy, trong những năm gần đây “Thị trường HU” là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều rửtà nghiện cửu, nhà hoạch định chính sách và đoạnh nghiệp. Nhiều cuộc hội tháo, nhiều công trình nghiền cửu liên quan đến để tài này đã được tổ chức và cảng bố rộng rãi Trong đó phải kể đến Hội thảo khoa học với chủ 48 “Thi trường BU vả các yêu cau của thị trường RU đối với xuất khẩu của Việt Nam” do trường đại học Ngoại thương [la Noi tổ chức vào tháng 11 năm 2001. Tài liệu của hội thảo là 40 bài viết của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trong nước đã tập trung phân tich thị trường EU theo các nội dung sau: 1) Thị trường EU và các yêu cân của thị trường này đổi với hàng hoá nhập khẩu nói chung va hàng nhập khẩu từ Việt Nam nói riêng; 2) Đặc điểm và xu hướng biển động, của thị trường EU tong thập kỹ 90 và ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu của V t Nam, 3) Những khó khăn, thách thức đối với các đoạnh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập vào thị trưởng RU, 4) Cae vấn đề về quy chế nhập khấu chung của EU, 5) Khả năng và giải pháp dẫy mạnh xuất khâu của Việt Nam sang thị trường EU; 6) Các vấn dé van hod kinh.

doanh trên thị trường TU; 7) Các yếu tổ ảnh hưởng tới hoạt động xuất khâu sang thi trường EU. hiểu công trinh nghiên cứu được đăng tài trên cáo ân phẩm sách, báo, tạp chỉ tiêu biếu là : - Vũ Chỉ Lộc & Nguyễn Thị Mơ (2003), Thị trường châu Âu và khả năng, đấy mạnh xuất khẩn hàng hoá của Việt Nam sang thị trường châu Âm giai đoạn 2001-2010, Khả xuất bản thống kê, Hà Nội - Vũ Chỉ Lộc (2004), Giải pháp đây mạnh xuất khẩu bàng hoá của Việt Nam sang thị trường châu Ân, Nhà xuât bản chỉnh trị quốc gia, Hà Nội. Hai cuốn sách trên tập trung phân tích vị trí của thị trường châu Âu trong hoạt động xuất khẩn hàng hoá của V t Nam; đặc điểm của thị trường châu Âu nói chung, thị trường EU và thị ruờng các nước SNG nói riêng; khả nặng và giải pháp dẫy mạnh xuất của Việt Nam sang thị trường châu Âu. ~“Tiếp cận thị trường liên minh châu Âu” của tác giả Phạm Văn Minh- va trưởng vụ châu Âu dược đăng tải liên tục trên nhiều số của báo Thương mại ( 28/4 — 26/5/2006 ).

Nội dung của bải viết nêu khái quát va danh giá về quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam — BU; Một số điểm cân chú ý khi tiếp cân thị trường EU như văn chưa tương xửng với tiểm lực của hai bên. Kin ngạch thương mại hai chiều mới chi chiém khoang 17% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và 0,07% tổng kim ngạch nhâp khâu của EU. Hâu hết các mặt hảng xuất khẩn quan trọng của Việt Nam dều gặp trở ngại khi thêm nhập vào thị trường EU vỉ dây là thị trường khó tính, tên tại nhiêu rào cản kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu. Mặt khác, vị EU là thi trường hấp dẫn với dung lượng lớn và khả năng tưmh toán nhanh niên tuức độ cạnh tranh của hàng hoả xuất khẩu rất gay gat.

Hang xuất khẩu của Việt Nam phải đối mặt với hàng hoá cùng loại đến từ nhiêu quốc gia khác nhau trong đó có những quốc gia hơn hẳn Việt Nam về lợi thế so sánh như Trmg Quá và THỘI SỐ TrưỚC AREAN khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ