CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC AN NINH HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG 1. Khái niệm, đặc điểmvà vai trò của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh hàng không dân dụng 1. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh hàng không dân dụng Hàng không dân dụng được hiểu là sự di chuyển bằng máy bay không vì mục đích quân sự1. Lĩnh vực hàng không dân dụng là lĩnh vực kinh tế vận tải áp dụng kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại, gắn liền với sự an toàn và an ninh ở mức tuyệt đối nên bắt buộc phải hoạt động trong quy trình chặt chẽ.
Chỉ cần có sơ suất ở bất cứ khâu nào trong cả dây chuyền phục vụ chuyến bay đều có thể dẫn đến một thảm họa, gây thiệt hại về tính mạng và tài sản cho hành khách và phi hành đoàn. Do đó, việc bảo đảm an ninh hàng không là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi quốc gia nào khi tham gia vào thị trường vận tải hàng không thế giới. Để đảm bảo an toàn trong lĩnh vực hàng không dân dụng, mỗi quốc gia phải dựa trên những yêu cầu, khuyến cáo của các tổ chức hàng không quốc tế mà mình tham gia và những quy định của pháp luật của quốc gia đó để xây dựng nên một hệ thống các khung tiêu chuẩn, một hệ thống các quy định về bảo đảm an ninh hàng không và bắt buộc các chủ thể tham gia hoạt động hàng không dân dụng phải tuyệt đối tuân thủ. Bên cạnh đó, mỗi quốc gia còn phải xây dựng và hoàn thiện những quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý và chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hàng không dân dụng.
Việc xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng tùy thuộc vào sự thay đổi định nghĩa vi phạm hành chính trong các văn bản pháp lý về xử lý vi phạm hành chính nên sẽ có sự thay đổi theo quá trình lịch sử trong từng thời kỳ. Hiện nay, dựa vào khái niệm vi phạm hành chính tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, định nghĩa về vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh hàng không dân dụng có thể được đưa ra như sau: “Vi phạm hành 1 Nguyễn Thị Hà (2012),Vấn đề đảm bảo an ninh trong lĩnh vực hàng không dân dụng theo luật pháp quốc tế - Thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 6 chính trong lĩnh vực an ninh hàng không dân dụng là hành vi có lỗi cố ý hoặc vô ý do tổ chức, cá nhân thực hiện, vi phạm quy định pháp luật về an ninh hàng không dân dụng mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”. Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không, người có thẩm quyền xử phạt cần xác định các dấu hiệu pháp lý của các yếu tố cấu thành loại vi phạm pháp luật này.
Những dấu hiệu pháp lý này được mô tả trong các văn bản pháp luật quy định về vi phạm hành chính, hình thức và biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Giống như bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào, vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh hàng không dân dụng cũng được cấu thành bởi bốn yếu tố là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể vi phạm hành chính. Thứ nhất, mặt khách quan của vi phạm hành chính là biểu hiện của vi phạm hành chính diễn ra bên ngoài thế giới khách quan, tác động vào các quan hệ xã hội mà pháp luật hành chính bảo vệ, bao gồm các dấu hiệu: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả thiệt hại do hành vi gây ra cho xã hội, các điều kiện bên ngoài khác như mối quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện vi phạm2. Nói cách khác, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm.
Việc bị ngăn cấm được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính, theo đó, pháp luật quy định rằng những hành vi này sẽ bị xử phạt bằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính. Do đó khi xác định vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân không được áp dụng “nguyên tắc suy đoán” hoặc “áp dụng tương tự pháp luật”. Đối với một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp, không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong hành vi mà còn có thể có sự kết hợp với nhiều yếu tố khác như hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà nó gây ra; thời gian, địa điểm, cách thức vi phạm. Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh hàng không dân dụng chính là hành vi vi phạm pháp luật về hàng không dân dụng hay nói cách khác là hành vi xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước về an ninh hàng không dân dụng và bị pháp luật hành chính ngăn cấm.
Việc bị ngăn cấm này được thể hiện rõ 2 Bùi Tiến Đạt (2008), Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính – Lý luận và Thực tiễn, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 7 ràng trong văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh hàng không dân dụng, theo đó, pháp luật quy định rằng những hành vi này sẽ bị xử phạt bằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính. Hiện nay, vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh hàng không dân dụng được chia làm 03 nhóm hành vi, gồm: Một là, nhóm hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ kiểm soát an ninh hàng không. Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Nghị định số 92/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về An ninh hàng không thì Thẻ kiểm soát an ninh cảng hàng không, sân bay là tài liệu xác nhận người được phép vào và hoạt động trong khu vực hạn chế liên quan của cảng hàng không, sân bay.
Các hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thẻ kiểm soát an ninh hàng không thường là: Làm mất thẻ mà không thông báo ngay cho cơ quan cấp thẻ; Sử dụng thẻ kiểm soát an ninh hàng không của người khác vào khu vực hạn chế của cảng hàng không, sân bay, lên tàu bay; Giả mạo thẻ kiểm soát an ninh hàng không…, đe dọa đến sự an toàn trong lĩnh vực hàng không dân dụng. Hai là, nhóm hành vi vi phạm quy định về an ninh hàng không đối với cảng hàng không, sân bay, chuyến bay, quản lý hoạt động bay. Đây thường là các hành vi: Gây rối, kích động, lôi kéo người khác làm mất an ninh, trật tự trong khu vực hạn chế của cảng hàng không, sân bay và nơi có công trình trang bị, thiết bị hàng không dân dụng; Đưa chất nổ, vật liệu nổ, vũ khí quân dụng chất cháy vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay, lên tàu bay trái quy định; Vi phạm trật tự kỷ luật trong tàu bay; Tung tin hoặc cung cấp thông tin sai về việc có bom, mìn, vật liệu nổ, chất nổ, chất phóng xạ, vũ khí sinh hóa học… Đây là những hành vi gây uy hiếp an toàn của tàu bay đang bay, người trên tàu bay đang bay, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh hàng không dân dụng. Ba là, nhóm hành vivi phạm quy định về tổ chức bảo đảm an ninh hàng không.
Đây là các hành vi của các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm trong việc tổ chức bảo đảm an ninh hàng không nhưng không tuân thủ hoặc tuân thủ không đúng các quy định đảm bảo an toàn cho công tác này. Các hành vi vi phạm thường là: Không lưu trữ hồ sơ, nhật ký khai thác, bảo dưỡng thiết bị an ninh hàng không theo quy định; Không lưu giữ hình ảnh hoặc lưu giữ hình ảnh qua máy soi tia X, máy thu hình giám sát không đúng thời gian quy định; Không có hoặc không đảm bảo các 8 yêu cầu hạ tầng an ninh hàng không theo quy định; Có trách nhiệm báo cáo mà không báo cáo hoặc báo cáo không đúng quy định về hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng. Thứ hai, mặtchủ quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể vi phạm hành chính3. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm.
Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý, nghĩa là người thực hiện hành vi vi phạm phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý)4. Ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính, một số trường hợp cụ thể pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích, động cơ là dấu hiệu bắt buộc của một số loại vi phạm hành chính. Trong những trường hợp này, khi xử phạt tổ chức, cá nhân cần phải xác định hành vi của họ có thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay không, ngoài việc xem xét các dấu hiệu khác. Vi phạm hành chính là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan.
Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ mặt khách quan của vi phạm hành chính phản ánh mặt chủ quan của vi phạm hành chính. Đồng thời mặt chủ quan được biểu hiện thông qua mặt khách quan của vi đích của chúng cũng không rõ nét. Mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng phải là hành vi có lỗi thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.