Đồ Án: Tính Toán Thiết Kế Hệ Thống Xử Lý Nước Phèn 1000m3/ngày đêm cho Đồng Bằng Sông Cửu Long

Đồ án xử lý nước chua phèn ĐBSCL, công suất 1000 m3/ngày đêm. Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước hiệu quả, phù hợp đặc điểm nguồn nước khu vực.

Chuyên ngành

Xử Lý Nước Cấp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2008

54
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NƢỚC PHÈN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1. GIỚI THIỆU SƠ LƢỢC VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1.1. Vị trí địa lý

1.2. NƢỚC PHÈN VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA NƢỚC PHÈN

1.2.1. Nƣớc phèn là gì?

1.2.2. Thành phần hoá học của nƣớc phèn

1.3. HIỆN TRẠNG NGUỒN NƢỚC Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.3.1. Nƣớc sinh hoạt ở vùng đất phèn đồng bằng Cửu Long

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nước Phèn và Đồng Bằng Sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu sông Mekong, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và đời sống của Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn nước ở đây đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là tình trạng nước phèn. Tình trạng này gây ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long, nước sinh hoạt và sức khỏe người dân. Theo tài liệu gốc, vấn đề nước phèn đã gây nhiều bất tiện trong sinh hoạt của người dân như làm vàng ố tất cả các vật chứa đựng nước và cả quần áo, nguy hại hơn nếu dùng nước này lâu ngày sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con người. Xử lý nước phèn hiệu quả là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững của khu vực. Bài viết này sẽ đi sâu vào các vấn đề liên quan đến nước phèn, từ nguyên nhân hình thành, tác động, đến các giải pháp xử lý khả thi và hiệu quả cho ĐBSCL.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên của Đồng Bằng Sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 1 thành phố trực thuộc trung ương (Cần Thơ) và 12 tỉnh. Địa hình thấp và bằng phẳng, chủ yếu là đồng bằng phù sa trẻ. Hệ thống sông rạch chằng chịt là đặc điểm nổi bật. Theo tài liệu gốc, Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải và hảng không quốc tế quan trọng giữa Đông Nam Á, Đông Á cũng như Châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương. Khí hậu cận nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, nhưng cũng gây ra lũ lụt và ô nhiễm nước.

1.2. Khái niệm nước phèn và quá trình hình thành trong nguồn nước

Nước phèn là loại nước có độ acid cao, pH thấp, do sự hình thành acid sulfuric từ pyrite (FeS2) trong đất phèn khi tiếp xúc với không khí. Tầng phèn càng gần mặt đất thì mức độ nhiễm phèn nặng. Theo tài liệu gốc, đất phèn được hình thành do quá trình kiến tạo địa chất và có thể chia thành đất phèn nặng, trung bình và nhẹ.

1.3. Thành phần hóa học đặc trưng của nước phèn trước khi xử lý nước

Nước phèn ở ĐBSCL thường có màu vàng đục, chứa nhiều tạp chất hữu cơ, pH thấp (2.5-3.5), độ kiềm bằng 0, và hàm lượng sắt, sulphate cao. Theo tài liệu gốc, nước phèn có hàm lượng sắt 25 – 70 mg/l và hàm lượng SO42 : 100 – 380 mg/l.

II. Thực Trạng Nước Phèn Thách Thức Cho Nguồn Nước ĐBSCL

Thực trạng nước phèn tại ĐBSCL là một vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Người dân, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa, phải đối mặt với tình trạng thiếu nước sạch do ô nhiễm nước nghiêm trọng. Các biện pháp xử lý nước phèn truyền thống không còn hiệu quả. Theo khảo sát đánh giá, vùng nhiễm phèn chiếm 41% diện tích đồng bằng sông Cửu Long. Tình trạng này đòi hỏi các giải pháp xử lý nước phèn mang tính hệ thống và bền vững để đảm bảo sử dụng nước an toàn.

2.1. Tác động của nước phèn đến đời sống sinh hoạt của người dân

Nước phèn gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày, làm hư hỏng vật dụng, ảnh hưởng đến sức khỏe. Các bệnh về da, tiêu hóa có thể gia tăng do sử dụng nước nhiễm phèn. Các biện pháp truyền thống như dùng vôi, tro để xử lý nước phèn gia đình chỉ mang tính tạm thời. Theo tài liệu gốc, người dân vẫn phải dùng nguồn nước nhiễm phèn cho mọi sinh hoạt hằng ngày từ tắm giặt đến ăn uống…Để giảm bớt độ phèn, các biện pháp truyền thống như lắng bằng vôi, tro thường được sử dụng.

2.2. Ảnh hưởng của nước phèn đến nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long

Nước phèn gây chua đất, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, giảm năng suất và chất lượng nông sản. Cải tạo đất phèn là một giải pháp quan trọng, nhưng đòi hỏi chi phí và kỹ thuật cao. Việc sử dụng nước tưới tiêu bị nhiễm phèn cũng gây hại cho cây trồng. Theo tài liệu gốc, việc xây dựng hệ thống thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long, nhất là hệ thống kênh và đê bao ở Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên, đã thúc đẩy hiện tượng xì phèn.

2.3. Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc trừ sâu và kim loại nặng làm trầm trọng thêm vấn đề

Chất lượng nước mặt ở các kênh rạch ngày càng xấu đi do ô nhiễm bởi thuốc trừ sâu, kim loại nặng, và các chất thải công nghiệp, làm giảm hiệu quả của các biện pháp xử lý nước phèn truyền thống. Theo tài liệu gốc, chất lượng nước mặt các kênh rạch tiếp tục xấu đi do bị ô nhiễm bởi thuốc trừ sâu, kim loại nặng, vết xăng dầu. khiến hệ thống bể lọc hầu như không còn tác dụng.

III. Top Giải Pháp Xử Lý Nước Phèn Hiệu Quả Cho ĐBSCL

Để giải quyết triệt để vấn đề nước phèn, cần áp dụng các giải pháp xử lý tổng thể, kết hợp giữa công nghệ hiện đại và các biện pháp truyền thống phù hợp. Các công nghệ xử lý cần phải đơn giản, dễ vận hành, chi phí hợp lý, và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của vùng. Giải pháp bền vững là ưu tiên hàng đầu để đảm bảo nguồn nước sạch lâu dài cho người dân ĐBSCL.

3.1. Xử lý nước phèn bằng vôi Phương pháp truyền thống và cải tiến

Vôi là một trong những vật liệu phổ biến dùng để xử lý nước phèn, giúp trung hòa acid, tăng pH. Tuy nhiên, cần kiểm soát liều lượng vôi để tránh làm tăng độ cứng của nước. Các phương pháp cải tiến có thể kết hợp vôi với các vật liệu khác để tăng hiệu quả xử lý. Theo tài liệu gốc, các hộ dân ở đây đều có trữ nước mưa để uống. Về mùa hô họ lấy nước sông lọc qua tro bếp để dùng.

3.2. Ứng dụng than hoạt tính và cát thạch anh trong bộ lọc nước phèn

Than hoạt tính có khả năng hấp phụ các chất hữu cơ, cải thiện mùi vị của nước. Cát thạch anh được sử dụng để lọc cặn, loại bỏ chất rắn lơ lửng. Sự kết hợp giữa than hoạt tínhcát thạch anh trong hệ thống xử lý nước giúp nâng cao chất lượng nước sau xử lý.

3.3. Công nghệ xử lý nước phèn bằng vật liệu DS3 Giải pháp tiên tiến

Vật liệu DS3 do các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và phát triển, có khả năng khử acid, loại bỏ sắt, nhôm, sulphate. Công nghệ này đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp với điều kiện vùng sâu vùng xa. DS3 đã được ứng dụng rộng rãi tại nhiều địa phương ở ĐBSCL. Theo tài liệu gốc, DS3 là loại vật liệu xử lý nước đầu tiên được chế tạo ở Việt Nam theo hiệu ứng tích số tan - còn có thể loại bỏ sắt, nhôm, sunfat và hầu hết các chất gây ô nhiễm khác có trong nước phèn.

IV. Quy Trình Xử Lý Nước Phèn Cho Nguồn Nước Sinh Hoạt và Tưới Tiêu

Để xử lý nước phèn hiệu quả, cần có một quy trình bài bản, từ khâu khảo sát, đánh giá chất lượng nguồn nước, đến lựa chọn công nghệ, thiết kế hệ thống xử lý, và vận hành, bảo trì. Quy trình cần đảm bảo nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn về nước sinh hoạtnước tưới tiêu, đảm bảo an toàn cho sức khỏe người dân và môi trường.

4.1. Kiểm tra nước phèn Xác định các chỉ số ô nhiễm và mức độ nghiêm trọng

Việc kiểm tra nước phèn giúp xác định chính xác các thông số như pH, hàm lượng sắt, nhôm, sulphate, độ đục, từ đó lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp. Kiểm tra định kỳ giúp theo dõi hiệu quả xử lý và điều chỉnh quy trình khi cần thiết.

4.2. Lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp với từng địa phương và điều kiện cụ thể

Việc lựa chọn công nghệ cần dựa trên nhiều yếu tố như chất lượng nguồn nước, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ kỹ thuật của người dân, và chi phí xử lý nước phèn. Cần ưu tiên các công nghệ đơn giản, dễ vận hành, bảo trì, và sử dụng vật liệu sẵn có tại địa phương.

4.3. Vận hành và bảo trì hệ thống xử lý nước phèn để đảm bảo hiệu quả lâu dài

Việc vận hành và bảo trì hệ thống xử lý đúng cách giúp đảm bảo hiệu quả xử lý ổn định, kéo dài tuổi thọ của hệ thống, và giảm thiểu chi phí. Cần có kế hoạch bảo trì định kỳ, thay thế vật liệu lọc khi cần thiết, và đào tạo kỹ thuật cho người vận hành.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Kinh Nghiệm Xử Lý Nước Phèn ở ĐBSCL

Nhiều mô hình xử lý nước phèn đã được triển khai thành công ở ĐBSCL, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Các nghiên cứu tiếp tục được thực hiện để tìm ra các giải pháp xử lý hiệu quả hơn, chi phí thấp hơn, và thân thiện với môi trường. Việc chia sẻ kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình thành công là rất quan trọng.

5.1. Mô hình canh tác Lúa Tràm lọc phèn Giải pháp sinh thái

Mô hình kết hợp trồng lúa, tràm và hệ thống mương tưới tiêu giúp lọc phèn tự nhiên, giảm ô nhiễm nguồn nước, và tăng thu nhập cho người dân. Theo tài liệu gốc, nhờ khả năng lọc phèn của cây Tràm, nước phèn sau khi đi qua lô Tràm trở nên tốt hơn và có thể sử dụng để tưới lại cho ruộng Lúa.

5.2. Kinh nghiệm sử dụng vật liệu xử lý nước phèn DS3 tại hộ gia đình và cụm dân cư

Vật liệu DS3 đã được ứng dụng rộng rãi trong các bộ lọc nước phèn gia đình và trạm cấp nước, mang lại nguồn nước sinh hoạt an toàn cho hàng nghìn hộ dân. Chi phí sử dụng DS3 thấp hơn nhiều so với các phương pháp khác. Theo tài liệu gốc, so với kinh nghiệm dân gian dùng tro (hay dùng nhất là tro cây tràm), dùng thuốc muối, vôi để xử lý nước phèn vốn chỉ giúp giảm vị chua trong nước chứ không loại được kim loại nặng và các chất ô nhiễm khác, công nghệ thùng lọc nước phèn đơn giản sử dụng DS3 rõ ràng bảo đảm nguồn nước sinh hoạt an toàn hơn cho người dân.

5.3. Nghiên cứu và phát triển các hệ thống lọc nước mặn phèn bằng năng lượng mặt trời

Các nhà khoa học đang nghiên cứu ứng dụng năng lượng mặt trời để vận hành các hệ thống lọc nước mặn, phèn, giúp giảm chi phí năng lượng và bảo vệ môi trường. Đây là một hướng đi đầy tiềm năng cho ĐBSCL. Theo tài liệu gốc, thiết bị có hình dáng là một cái hộp bằng tôn tráng kẽm, mặt đáy và mặt xung quanh được bọc lại bằng các vật liệu cách nhiệt có sẵn như trấu, mùn cưa, sợi thủy tinh. Mặt trên được che bằng tấm kính đặt nghiêng trong suốt dày 3-5 mm.

VI. Tương Lai Xử Lý Nước Phèn Bền Vững Cho Đồng Bằng Sông Cửu Long

Để đảm bảo tương lai xử lý nước phèn bền vững, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, và cộng đồng. Cần tăng cường đầu tư vào nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, và nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề nước phèn và các biện pháp xử lý.

6.1. Xây dựng chính sách và quy định về quản lý nguồn nước và xử lý nước thải

Cần có các chính sách và quy định chặt chẽ về quản lý nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm nước, và khuyến khích sử dụng các công nghệ xử lý nước thân thiện với môi trường. Các quy định cần được thực thi nghiêm túc để đảm bảo hiệu quả. Một hệ thống quản lý và chính sách bền vững là vô cùng quan trọng.

6.2. Thúc đẩy hợp tác quốc tế và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực xử lý nước

Hợp tác với các tổ chức quốc tế, các quốc gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực xử lý nước giúp tiếp cận các công nghệ tiên tiến, nguồn tài trợ, và kiến thức chuyên môn. Chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương, các quốc gia giúp nhân rộng các mô hình thành công.

6.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của sử dụng nước an toàn

Nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của sử dụng nước an toàn, các nguy cơ do nước phèn gây ra, và các biện pháp phòng tránh, xử lý. Khuyến khích người dân tham gia vào quá trình quản lý nguồn nước và bảo vệ môi trường.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Nƣớc ta có nguồn nƣớc thiên nhiên khá dồi dào. Tuy nhiên hiện nay phần lớn trong số đó đều bị ô nhiễm nghiêm trọng vấn đề này làm cho nguồn nƣớc sạch ngày càng khan hiếm để sử dụng cho mục đích ăn uống sinh hoạt… Một trong những vấn đề nan giải và chiếm phạm vi khá rộng đó là nƣớc bị chua phèn. Đặc biệt ở đồng bằng Sông Cửu Long, ngƣời dân nơi đây nhiều năm nay phải tiếp xúc trực tiếp với nguồn nƣớc này. Nƣớc chua phèn đã gây nhiều bất tiện trong sinh hoạt của ngƣời dân nhƣ làm vàng ố tất cả các vật chứa đựng nƣớc và cả quần áo, nguy hại hơn nếu dùng nƣớc này lâu ngày sẽ ảnh hƣởng không tốt đến sức khỏe con ngƣời.

Xuất phát từ vấn đề thực tế trong cuộc sống, nhóm quyết định chọn đề tài “Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước chua phèn khu vực đồng bằng sông Cửu Long với công suất 1000 m3/ngàyđêm” với mục đích góp một phần nhỏ tham gia vào công việc xử lý nguồn nƣớc ở vùng sông nƣớc để đem lại cuộc sống sinh hoạt thoải mái cho ngƣời dân. Đề tài này thực ra đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đã tiến hành xây dựng khá nhiều công trình xử lý, hiện nay đã có một số công trình đƣợc áp dụng trong cộng đồng dân cƣ và cũng đã đem lại hiệu quả bƣớc đầu, dù vậy nhóm vẫn quyết định chọn đề tài. Khi tiến hành xây dựng đề tài, nhóm đã dựa trên các phƣơng pháp thu thập thông tin, tra cứu số liệu, tìm hiểu tiếp cận thực tế, tính toán thiết kế hệ thống xử lý nƣớc chua phèn đạt tiêu chuẩn cấp cho sinh hoạt. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NƢỚC PHÈN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.

GIỚI THIỆU SƠ LƢỢC VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Vị trí địa lý Đồng bằng sông Cửu Long nằm cuối của lãnh thổ Việt Nam thuộc hạ lƣu sông Mêkông, gồm 1 thành phố Cần Thơ (trực thuộc trung ƣơng) và 12 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Là kết quả của sự bồi đắp phù sa từ 2 nhánh sông Tiền sông Hậu của sông Cửu Long và vẫn tiếp tục lấn ra biển, nhất là mũi Cà Mau. Phía tây là vùng Đông Nam Việt, phía bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là biển Đông.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong khu vực có đƣờng giao thông hàng hải và hảng không quốc tế quan trọng giữa Đông Nam Á, Đông Á cũng nhƣ Châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dƣơng. Điều kiện tự nhiên Địa hình: thấp và bằng phẳng, chủ yếu là đồng bằng phù sa trẻ bồi đắp bởi sông Mêkông rất ít đồi núi dọc theo biên giới Việt - Miên (vùng phù sa cổ từ An Giang tới Hà Tiên). Vùng gò cao ven sông Tiền và sông Hậu (cao 1 - 3m). Vùng giồng cát ven biển (cao 1 - 5m).734 km2 (khoảng 4 triệu ha), chủ yếu là đất phù sa ngọt (1,2 triệu ha), đất nhiễm mặn và phèn chiếm 2,5 triệu ha; phần lớn là vùng rừng ngập mặn ven biển và Cà Mau.

Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 16 triệu dân, là vùng kinh tế trọng điểm nông nghiệp lớn nhất nƣớc, có sông Cửu Long (Mêkông) là nơi cung cấp nƣớc sản xuất sinh hoạt chính trong vùng. Hệ thống sông rạch chằng chịt thuộc 2 con sông chính của sông Mêkông (dài 3650 km, diện tích toàn lƣu vực: 600.000km2) là sông Tiền và sông Hậu. Lƣu lƣợng: bình quân 14. Lũ lụt: thƣờng vào tháng 7 đến tháng 12.

Khí hậu cận nhiệt đới với đặc điểm nóng, ẩm và mƣa nhiều tạo ra sự đa dạng sinh học trên cạn và dƣới nƣớc, thuận lợi cho sự phát triển nông ngƣ nghiệp. Tuy nhiên, thiên nhiên cũng tạo ra không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của ngƣời dân vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đồng bằng sông Cửu Long cần đƣợc nghiên cứu để sớm tìm ra biện pháp “phòng chống” (hạn chế tác hại?) lũ lụt hay phải “sống chung với lũ” nhƣ thế nào? Phải cải tạo đất phèn, nhiễm mặn nhƣ thế nào? Làm thế nào để có thể cung cấp nƣớc ngọt và nƣớc sạch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho tất cả ngƣời dân vùng này, nhất là trong mùa khô hạn? Hiện tƣợng ElNino và “trái đất nóng dần lên” (global warming) có ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến vùng này? Giao thông vùng đồng bằng sông Cửu Long: chủ yếu là hệ thống sông rạch chằng chịt thuộc 2 con sông chính của sông Mêkông là sông Tiền và sông Hậu. Nhƣng do tập quán canh tác, ăn ở đi lại trên sông nƣớc, nhất là các năm gần đây công nghiệp các tỉnh phát triển, canh tác nông nghiệp dùng phân bón, thuốc trừ sâu ngày càng nhiều nên làm ảnh hƣởng nhất định đến môi trƣờng nƣớc mặt cũng nhƣ tầng ngầm.

Từ đó làm ảnh hƣởng đến tài nguyên nƣớc, ảnh hƣởng đến nƣớc sản xuất sinh hoạt của nhân dân, nhất là trong mùa lũ lụt, mùa khô ở các vùng sâu, vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long. NƢỚC PHÈN VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA NƢỚC PHÈN 1. Nƣớc phèn là gì? Ở đồng bằng sông Cửu Long và một số nơi gần biển, nƣớc có độ acid khá cao, tức có pH thấp, ngƣời dân gọi là nƣớc phèn vì có vị chua. Acid trong nƣớc phèn là sulphuric acid, đƣợc tạo thành khi đất phèn (pyrite (FeS2)) tiếp xúc với không khí.

Đất phèn đƣợc hình thành do quá trình kiến tạo địa chất. Theo độ sâu của tầng phèn trong đất thì đất phèn đƣợc chia thành 3 loại:  Đất phèn nặng sẽ có tầng phèn hoạt động nằm ở cách mặt đất khoảng 50cm.  Đất phèn trung bình thì tầng phèn nằm cách mặt đất từ 50 – 100cm.  Đất phèn nhẹ khi có tầng phèn nằm cách mặt đất 100 – 150cm.

Với độ sâu trên 150cm thì chúng ta không cần quan tâm bởi vì vật liệu sinh phèn đã ở xa vùng rễ nên sẽ không gây ảnh hƣởng cho cây trồng. Nhƣ vậy đất nào có tầng phèn càng ở gần mặt đất hay gần vùng rễ cây thì đó là đất phèn nặng. Dựa trên sự hình thành và phát triển của đất, chia đất phèn ra làm 2 loại: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Đất phèn tiềm tàng (Potential acid sulphate soil): đƣợc hình thành trong vùng chịu ảnh hƣởng của nƣớc có chứa nhiều sulfate. Trong điều kiệm yếm khí cùng với hoạt động của vi sinh vật, sulfate bị khử để tạo thành sulfur và chất này sẽ kết hợp với sắt có trong trầm tích để tạo thành FeS2.

 Đất phèn hoạt động (Actual acid sulphate soil): trạng thái tiềm tàng hình thành trong điều kiện khử, nhƣng trạng thái hoạt động phải có sự oxid hóa. Khoáng vật luôn luôn hiện diện trong đất phèn hoạt động là khoáng jarosite, đây là sản phẩm của tiến trình oxid hóa từ vật liệu sinh phèn (pyrite). Một số hợp chất và tinh khoáng khác thƣờng hiện diện trong đất phèn hoạt động nhƣ là hydroxide sắt (Fe(OH)3), geothite (FeO. Ngoài ra, tại một số vùng có thể có sự hiện diện của một ít gypsum (CaSO4.2H2O) nhƣng không nhiều và không dễ dàng nhận ra sự hiện diện của chúng.

Khi phèn tiềm tàng trở thành phèn hoạt động thì tùy theo loại độc chất mà chúng có thể tan hoặc không tan, có thể tạo nên váng màu vàng hay ánh bạc nên biểu hiện trên đồng ruộng cũng khác nhau. Nếu độc chất phèn là sắt thì sẽ thấy màu đỏ nâu của rỉ sắt (còn gọi là phèn nóng) và độc chất phèn nhôm sẽ có màu trắng (còn gọi là phèn lạnh). Nƣớc chua phèn không có môi trƣờng đệm (hàm lƣợng ion HCO3 và CO32 không có hoặc rất thấp) nên không thích hợp cho đời sống của các sinh vật sống dƣới nƣớc. Thành phần hoá học của nƣớc phèn Thành phần hóa học nƣớc phèn trƣớc xử lý (Đơn vị: mg/l) STT Các chỉ tiêu Số mẫu phân tích Nồng độ 1.

Nhôm 25 - 120 0,5 - 3,0 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com STT Các chỉ tiêu Số mẫu phân tích Nồng độ 5. Amoni 25 - 100 00 Nƣớc phèn ở đồng bằng sông Cửu Long có đặc tính: Màu: vàng đục, nhiều tạp chất hữu cơ pH: 2,5 - 3,5 Độ kiềm: 0 ( CO32 = 0, HCO3 = 0) Hàm lƣợng sắt: 25 – 70 mg/l Hàm lƣợng SO42 : 100 – 380 mg/l Độ mặn: 180 mg/l 1. HIỆN TRẠNG NGUỒN NƢỚC Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1. Nƣớc sinh hoạt ở vùng đất phèn đồng bằng Cửu Long Ở đồng bằng Cửu Long, đất phèn chiếm gần một nửa tổng diện tích.

Ngƣời dân khu vực này, đặc biệt là vùng xa thành phố vẫn phải dùng nguồn nƣớc nhiễm phèn cho mọi sinh hoạt hằng ngày từ tắm giặt đến ăn uống…Để giảm bớt độ phèn, các biện pháp truyền thống nhƣ lắng bằng vôi, tro thƣờng đƣợc sử dụng, phổ biến nhất là tro cây tràm. Tuy nhiên, cách chống đỡ đơn giản này tác dụng rất hạn chế, nƣớc qua bể lọc tự tạo còn vị chát. Gần đây chất lƣợng nƣớc mặt các kênh rạch tiếp tục xấu đi do bị ô nhiễm bởi thuốc trừ sâu, kim loại nặng, vết xăng dầu. khiến hệ thống bể lọc hầu nhƣ không còn tác dụng, những “căn bệnh lạ” cứ lần lƣợt xuất hiện.

Qua khảo sát đánh giá, vùng nhiễm phèn chiếm 41% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm vùng Tây Bắc Long An, Đồng Tháp Mƣời, Tứ Giác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Long Xuyên và Tây sông Hậu. Thời gian nhiễm phèn từ 2 – 6 tháng. Vào mùa mƣa nƣớc mƣa rửa trôi đất phèn, mang theo nhiều sắt, nhôm sunfat và axit mùn hữu cơ. Đặc trƣng của nƣớc chua phèn là chứa nhiều ion H+ và các muối thủy phân mang tính axit nhƣ AlCl3, Al2(SO4)3, FeCl3, Fe2(SO4)3, FeSO4.

Nƣớc chua phèn không có môi trƣờng đệm (hàm lƣợng ion HCO3-, CO3- không có hoặc rất thấp) nên không thích hợp cho đời sống của các sinh vật sống dƣới nƣớc. Các vùng trũng, nƣớc đọng chứa rất nhiều sunfat, các vùng có địa hình hàm lƣợng sunfat có trong nƣớc ít hơn. Ðây là một hiện tƣợng tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long thƣờng thấy trong những năm hạn hán vì đồng bằng này có đến 1,6 triệu ha đất phèn, nhất là ở Ðồng Tháp Mƣời và Tứ giác Long Xuyên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ