Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THUC TIEN VE TO CHỨC SAN XUẤT CHUONG TRÌNH TRUYÈN HÌNH XỬ LÝ ĐƠN THƯ KHÁN GIÁ 1. Một số khái niệm cơ bản: 1.1 Khái niệm về chương trình truyền hình Truyền hình là hệ thống phát và thu hình ảnh, âm thanh bằng những thiết bị truyền dẫn tín hiệu từ qua cáp, sợi quang va quan trọng nhất là sóng điện từ. Có thé nói, truyền hình là phương tiện truyền thông phố biến nhất thế giới. Qua kết hợp giữa hình ảnh động và âm thanh, truyền hình đem đến cho con người cảm giác chân thực về một cuộc sống sinh động đang hiện diện trước mắt khi ngồi trước màn ảnh.
Không chỉ là phương tiện truyền thông, phương tiện giải trí, ngày nay, truyền hình còn được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của xã hội hiện đại. VỀ mặt an ninh, truyền hình như một công cự bảo vệ, giám sát. Về mặt truyền thông, ké từ giữa thé kỷ XX, đây là loại hình phương tiện thông tin đại chúng ngày càng phổ biến, mang tính đại chúng. Thế mạnh của truyền hình là cung cấp thông tin dưới dạng hình ảnh mang tính hap dẫn, sinh động, trực tiếp và tong hợp.
Thông tin trên truyền hình đã tái hiện cuộc sống hiện thực trong trạng thái sống động. Tức có nghĩa là truyền hình có thể là một bộ phận nguyên dạng những gì đang diễn ra ngoài đời nhưng nó được cho là chân thực, rõ hơn, đẹp hơn. Qua truyền hình cược sống, được cô đọng, điển hình hoá trên những bình diện khác nhau, làm giàu thêm về ý nghĩa, trước khi khán giả xem thông qua các chương trình, phóng sự truyền hình. Người xem có cảm giác như chính có đang có mặt, trực tiếp ở hiện trường chứng kiến và đang tham gia vào sự kiện thực tế đó.
Từ ý nghĩa đó, loại hình truyền hình, hay còn gọi là báo hình trở thành phương tiện truyền thông độc đáo, đặc biệt, tạo nên được ở người dùng, người tiếp nhận thông tin là khán giả, tính hiệu quả tổng hợp tức thời về nhận thức và thâm mỹ, trước hết ở trình độ trực quan và trực cảm. So với nhiều loại hình báo chí khác, truyền hình là thé loại sinh sau đẻ muộn, kế thừa những thành quả của phát thanh, báo in và cả phim ảnh. Cu thé là, truyền hình lay âm thanh của phát thanh, lấy hình ảnh của điện anh dé tăng tính hiệu quả, tương tác thông tin với nhiều dang thức: lời bình, lời nói, tiếng động, âm nhạc,. 18 trong đó, hình ảnh là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tổ đem lại sức hấp dẫn cho truyền hình.
Thậm chí nhiều chương trình, phóng sự độc đáo chi dùng hình dé hình tượng hoá vấn đề chính đang phản ánh. Nhưng nét khác biệt chính là hình ảnh của truyền hình là khách quan, chứa đựng cuộc sống sinh động trong thực tế, không bị dàn dựng. Tính ưu thế đặc trưng này chính là sự sinh động và hấp dẫn của báo hình. Từ thập kỷ 80, truyền hình độ nét cao sử dụng kỹ thuật số bắt đầu được nghiên cứu.
Và theo đà phát triển, cuộc cách mạng công nghệ 3.0 đã khiến ngành truyền hình đang từng bước chuyên dần từ công nghệ analog sang truyền hình kỹ thuật số digital. Tại Việt Nam, trong lich sử truyền hình đã ghi dấu mốc ngày 7/9/1970. Day là ngày chương trình thử nghiệm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được phát sóng. Chương trình này được Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện tại phòng thu nhạc lớn tại trụ sở 58 Quán Sử.
Chương trình này kéo dài 15 phút tin tức do phát thanh viên trực tiếp đọc trên micro và 45 phút ca nhạc. Đến 30 tết Tân Hợi, 27/1/1971, nhân dân thủ đô Hà Nội mới chính thức được xem chương trình đầu tiên trực tiếp với các phan tin tức, ca nhạc, phim truyện. Như vậy, do những hạn chế về mặt thiết bị kỹ thuật, truyền hình Việt Nam sơ khai đã dùng hình thức phát trực tiếp dé phục vu công chúng. Sau đó, dan dần, chương trình được phát 2 tốt/tuần, mỗi tối 2h30 phút.
Mãi tới 16/6/1976 mới chính thức phát sóng hàng ngày khi cơ sở chuyển về trung tâm truyền hình Giảng Võ, Hà Nội. Trong Giáo trình báo chí trình hình của tác giả Dương Xuân Sơn, thuật ngữ truyền hình television được lý giải “ từ “Tele ” có nghĩa là “ở xa”, còn “videre” là “thấy được”, tức có nghĩa là xem được ở xa. Còn Tiếng Anh là “Television ” tiếng Pháp là “Télévision ”, tiếng Nga là “meneeudeime. Theo đó, dù phát triển ở bat cứ đâu, ở quốc gia nào, bất cứ nơi đâu thì khái niệm truyền hình cũng chung một nghĩa là nhìn được từ xa.
Trong từ điển tiếng Việt, nhìn từ góc độ truyền tải thông tin, chương trình truyền hình là một tổng thé logic các dữ liệu thông tin được xây dựng nhằm đạt được mục đích đưa ra thông điệp cụ thé, rõ ràng khi xây dựng chương trình. Trong nhiêu sách, giáo trình, mà cụ thê là trong cuôn “Sản xuât chương trình truyên hình” 19 của tác giả Trần Bảo Khánh, khái niệm “chương trình truyền hình” được khái quát là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng, khán giả, đọc giả. Xuất phát từ mục đích, chương trình truyền hình được tiếp nhận bởi công chúng. Những thông tin mà nó cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm, để cụ thể hoá những tư tưởng, chủ đề, tư duy và lâu dài, dần tạo thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận.
Chính vì thế, các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình đòi hỏi phải được lựa chon, sắp xếp hợp lý dé khán giả có thé tiếp nhận chương trình truyền hình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu. Đối với người xem, khán giả, sự lựa chọn một chương trình truyền hình bao gồm cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp thê hiện, phù hợp với tâm lý, hoàn cảnh tiếp nhận của công chúng. Và chính sự lựa chọn đó sẽ là căn cứ để hoạch định danh mục chương trình được tổ chưc, sản xuất và phát sóng trên các đài truyền hình.2 Khán giả Khán giả là người xem. Theo sự phát triển của thực tiễn, công nghệ, vi trí khán gia đã có sự thay đôi ngoạn mục của khán giả.
Từ bị động sang chủ động, từ chỗ phụ thuộc, người thụ hưởng nội dung truyền hình, chờ đến giờ phát sóng, để xem các chương trình sang chủ động lựa chọn nội dung gì, xem gì trên truyền hình, thậm chí là người sáng tạo nội dung đề truyền hình liên kết đưa vào phát sóng Từ analog, truyền hình phát triển thêm nhiều thể loại và nhiều kênh phát sóng trên nền tang kỹ thuật số. Sự phát triển của công nghệ, nhất là trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, đã trao thêm quyền chủ động cho khán giả hay còn là người dùng, khi họ có thể quyết định thời điểm theo dõi chương trình phù hợp với điều kiện làm việc và nghỉ ngoi,hoan cảnh thực tế của mình. Thời đại kỹ thuật số, khán giả đang dần trở nên quyền lực. Người xem có thể quyết định theo dõi nội dung truyền hình yêu thích của mình vào bat cứ lúc nào, bat cứ nơi đâu và bằng bat cứ phương tiện nào.
Nếu như trước đây là truyền hình truyền thống, ti vi thì nay là website, smartphone,.nho vào sự hội tụ công nghệ trên truyền hình cũng như trên các phương tiện truyền thông mới. Khi công nghệ phát triển như vũ bão đã trao quyên cho người xem, người dùng, khán giả cả vê thời gian, nơi chôn và cách 20 thức theo dõi truyền hình bằng nhiều thiết bị, nhiều cách thức, thì điều duy nhất còn lại khiến khán giả vẫn còn phải háo hức, đợi chờ, hy vọng chính là yếu tố nội dung của truyền hình phat sóng, đăng tải trên nhiều nền tang fanpage, zalo, tiktok, youtue. Ưu thế của các phương tiện truyền thông mới, nội dung chính là cái khán giả vẫn luôn thấy thiếu, cảm thấy háo hức khi họ đã có trong tay tất cả các quyền lực do khoa học, công nghệ đem lại. Nhu cầu và thái độ của khán giả đối với nội dung của chương trình truyền hình có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của màn ảnh nhỏ trên nền tảng số, ti vi trên ssmartphone, trong tương lai.
Các nhà Đài phải xem xét đến nhu cầu,thị hiếu của khánn giả dé mà quyết định mục tiêu sản xuất nội dung, cách thức phân phối nội dung trên nền tảng nào của ngành công nghiệp truyền hình. Các nghiên cứu về công chúng, người xem truyền hình cho thay,nhu cầu của khán giả đối với nội dung truyền hình rất phong phú và đa dạng. Về cơ bản được phân thành 4 nhóm chính: Nhu cầu thông tin Nhu cầu tự khăng định bản thân Nhu cầu chia sẻ Nhu cầu giải trí, vui chơi Xét đến cùng, những nhóm nhu cầu này cũng khá tương đồng với những nhu cầu về mặt tinh thần của con người đó là an toan, giao tiếp xã hội, được tôn trọng và tự khăng định bản thân). Nội dung truyền hình sẽ luôn luôn song hành và cần thiết đối với công chúng.
Chừng nào nó còn đáp ứng được các nhu cầu căn bản về tỉnh thần, thiết thực với đời sống thì truyền hình vẫn là thế mạnh so với thể loại báo chí khác, đáp ứng nhu cầu thưởng thức, nhu cầu thông tin của số đông công chúng với ưu thế sẵn có của mình là chân thật, sống động. Theo quy luật cuộc sống, thời gian và không gian sẽ phát sinh vô vàn những kiểu loại nhu cầu khác nhau, đem lại nhiều cơ hội cho việc sản xuất nội dung truyền hình. Tuỳ thời điểm mà nhu cầu công chúng, người xem khác nhau. Khi thì truyền hình thực tế, khi thì talkshow, khi thì toạ đàm chính luận, khi thì voxbox,.Cang đa dạng, món ăn tinh thần càng đáp ứng đa dạng nhu 21 cầu của khán giả.
Nhu cầu và thái độ của khán giả, công chúng sẽ quyết định nội dung của sản phẩm, chương trình truyền hình. Điều này có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của truyền hình trong tương lai vì điều đó quyết định mục tiêu sản xuất nội dung, cách thức phân phối nội dung của công nghiệp truyền hình. Vấn đề sống còn truyền hình thời 4.0 chính là: kênh nào, chương trình nào đáp ứng được nhu cầu của khán giả thì kênh đó, chương trình đó, Đài đó sẽ tồn tại trong thị trường truyền thông rất năng động nhưng cũng day cạnh tranh khốc liệt hiện nay. Với xu hướng hội tụ đa dạng, người dùng quyết định nội dung chương trình truyền hình; khán giả truyền hình đang dần có quyền lực và sẽ ngày càng có quyền lực hơn trong tương lai.