đặt vấn đề đối với trường hợp này là vì liên quan đến việc ra quyết định thi hành án và tổ chức việc thi hành, có sự khác nhau giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức là đương sự trong THADS. Chẳng hạn: Điểm c Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, quy định: “Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Đối với tài sản thuộc quyền sở 9 hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết.
Với quy định này, vợ chồng đồng thời là thành viên hộ gia đình về quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình”. Ví dụ: Bản án 54a/2019/DS-PT ngày 12/04/2019 về "Yêu cầu tuyên bố hợp 1 đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu" của TAND tỉnh Đắk Lắk. Theo bản án, gia đình ông Y K Byă là hộ đồng bào dân tộc tại chỗ, ngày 04/01/2001 UBND tỉnh Đắk Lắk cấp CNQSDĐ số O 367121, tờ bản đồ số 25, thửa đất số 116, diện tích 1.350m² thị trấn E, huyện E mang tên hộ ông Y K. Tại thời điểm kê khai đăng ký cấp giấy CNQSDĐ không thể hiện có các thành viên trong HGĐ.
Năm 2005 ông Y K Byă, bà H’B Niê chuyển nhượng diện tích đất trên cho vợ chồng ông Trần Văn G và bà Đặng Thị Minh T với giá 300.000 đồng, khi bán đất có ghi “Giấy chuyển nhượng đất thổ cư”, được buôn trưởng là ông Y D Bkrông xác nhận. Sau khi chuyển nhượng, vợ chồng ông Y K Byă, bà H’B Niê đã giao giấy CNQSDĐ và bàn giao thửa đất cho vợ chồng ông G, bà T quản lý, sử dụng từ năm 2005. Ngày 25/4/2012, vợ chồng ông G, bà T vay vốn Ngân hàng N- chi nhánh huyện Ea S Đắk Lắk, do giấy CNQSDĐ vẫn đang đứng tên hộ ông Y K Byă nên vợ chồng ông G nhờ vợ chồng ông Y K Byă ký hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba với Ngân hàng để bảo đảm cho khoản vay của ông G, bà T, tài sản thế chấp là thửa đất số 116, tờ bản đồ số 25, diện tích 1350m2 nêu trên. Do không trả được nợ, ngày 06/10/2016 Ngân hàng, ông G, bà T, vợ chồng ông Y K, bà H’B và bà H’Y Niê đã thống nhất lập “Văn bản thỏa thuận về việc bán đấu giá tài sản thế chấp”.
Ngày 20/10/2016, Ngân hàng đã ký hợp đồng với Công ty cổ phần dịch vụ đấu giá T để bán tài sản thế chấp nêu trên, vợ chồng ông Trần Trọng N, bà Phạm Thị H đã mua trúng tài sản đấu giá và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện E đăng ký biến động sang tên ông N vào ngày 17/3/2017. Các nguyên đơn là chị H’N Niê, anh Y B Niê, chị H’L Niê, chị H’N Niê, anh Y Ơ Niê và chị H’Y Niê (con của ông Y K Byă và bà H’B Niê) đã khởi kiện đề nghị 1https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-54a2019dspt-ngay-12042019-ve-yeu-cau-tuyen-bo-hop- dong-the-chap-quyen-su-dung-dat-vo-hieu-81785, truy cập lúc 20h ngày 2. 10 Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba ngày 25/4/2012 được ký giữa Ngân hàng với ông Y K Byă và bà H’B Niê là vô hiệu vì đây là tài sản chung của HGĐ, căn cứ vào giấy CNQSDĐ. Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đều không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn.
Trong vụ án này, tác giả nhận thấy: Một, về nguyên tắc khi QSDĐ ghi là HGĐ thì QSDĐ đó là của hộ, bao gồm các thành viên của gia đình. Cho đến sau này, Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Bộ Tài nguyên và môi trường về việc quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai mới bổ sung nội dung này cụ thể hơn. Theo đó, điểm c Khoản 5 Điều 6 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT mới xác định cụ thể hơn: Hộ gia đình sử dụng đất thì ghi “Hộ gia đình, gồm ông” (hoặc “Hộ gia đình, gồm bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình.
Dòng tiếp theo ghi “Cùng sử dụng đất, cùng sở hữu tài sản gắn liền với đất (hoặc Cùng sử dụng đất hoặc Cùng sở hữu tài sản) với … (ghi lần lượt họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của những thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất).” Hai, về quyền của thành viên HGĐ sử dụng đất. Điểm c, d, đ khoản 2 Điều 179 LĐĐ quy định: Hộ gia đình được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm có quyền để thừa kế, tặng cho, cho thuê tài sản; thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật. Đối chiếu quy định này với vụ án trên, điểm vướng mắc là quyền của người từ đủ 15 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi. Theo Khoản 2 Điều 77 LHNGĐ, con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
Như vậy dưới góc độ dân sự nói chung, con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, họ có một số quyền liên quan đến việc định đoạt tài sản như để lại di chúc chẳng hạn. Theo các quy định 11 hiện hành, người chưa thành niên là thành viên của hộ gia đình sử dụng đất và trong phạm vi nhất định thì họ vẫn có quyền đối với quyền sử dụng đất. Ba, tại Điểm 4, Mục I, Phần III Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ, khi giải quyết vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất mà GCNQSDĐ đó được cấp cho HGĐ và tại thời điểm giải quyết tranh chấp, thành viên HGĐ đã có sự thay đổi so với thời điểm cấp GCNQSDĐ, cách xác định thành viên HGĐ theo quy định tại Khoản 29, Điều 3, LĐĐ như sau: - Thời điểm để xác định HGĐ có bao nhiêu thành viên có QSDĐ là thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ; nhận chuyển QSDĐ. - Việc xác định ai là thành viên HGĐ căn cứ vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ.
Trường hợp cần thiết, Tòa án có thể yêu cầu UBND có thẩm quyền GCNQSDĐ xác định thành viên HGĐ tại thời điểm cấp GCNQSDĐ để làm căn cứ giải quyết vụ án và đưa họ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Khi giải quyết vụ án dân sự, ngoài những người là thành viên HGĐ có QSDĐ, Tòa án phải đưa người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất của HGĐ, người có công sức đóng góp làm tăng giá trị QSDĐ hoặc tài sản trên đất tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo hướng dẫn này, điểm bất cập chính là thời điểm xác định HGĐ có QSDĐ. Đó là thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ; nhận chuyển QSDĐ.
Thay vì hướng dẫn theo hướng vừa là thời điểm có được QSDĐ, vừa là người có khả năng sử dụng đất. nếu là đất được giao, vừa đảm bảo tài chính nếu là đất thuê, nhận chuyển nhượng và các hình thức khác. Đối chiếu với vụ án trên, đây là đất do nhà nước giao, nên về nguyên tắc vẫn là đất của hộ. Bốn, hầu hết các bản án của Tòa, khi quyết định chủ thể có nghĩa vụ thi hành cho người được thi hành án là các cá nhân cụ thể.
Khái niệm HGĐ chủ yếu là để xác định phạm vi người có quyền hoặc nghĩa vụ trong vụ án. Năm, Tòa án có sự chưa nhất quán trong việc xác định tài sản của hộ và thành viên của HGĐ khi giải quyết vụ án có việc xử lý tài sản thế chấp là QSĐĐ của HGĐ. Ví dụ: Bản án 17/2017/KDTM-PT ngày 18/12/2017 về tranh chấp hợp đồng 2 tín dụng .vn/banan/ban-an/ban-an-172017kdtmpt-ngay-18122017-ve-tranh-chap-hop-dong- tin-dung-15765, truy cập lúc 19h ngày 5. 12 Công ty trách nhiệm hữu hạn S vay của Ngân hàng thương mại cổ phần C Việt Nam- chi nhánh Thanh Hóa số tiền 8.000 đồng với tài sản thế chấp là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 82 Hàng Đ, phường B, thành phố Thanh Hóa, theo GCNQSDĐ số AG 725924 do UBND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 29/11/2006, theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số 10560055/HĐBĐ ngày 15/11/2010 ký giữa Ngân hàng TMCP C Việt Nam - Chi nhánh Thanh Hóa với bên có tài sản là hộ ông Đ, bà O, bên vay vốn là Công ty S.
Anh Q, anh S, anh T (là các con của ông Đ, bà O) có yêu cầu độc lập: Yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng thế chấp số 10560055/HĐBĐ ngày 15/11/2010, giữa ông Đ, bà O với ngân hàng. Bản án số 11/2017/KDTM-ST ngày 06/9/2017 của TAND thành phố Thanh Hóa quyết định: Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng C về quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản đảm bảo là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: Số nhà 82 Hàng Đ, phường B, thành phố Thanh Hóa, theo GCNQSDĐ số AG 725924 do UBND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 29/11/2006, theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số 10560055/HĐBĐ ngày 15/11/2010 ký giữa Ngân hàng C với bên có tài sản là ông Đ, bà O, bên vay vốn là Công ty S.