chương 1 tác giả sẽ tập trung tìm hiểu: 1) Cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài và 2) Tình trạng việc làm của giới trẻ Hàn Quốc trước năm 2008 và 3) tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 tới Hàn Quốc. Hệ thống khái niệm * Khái niệm “xu hướng ” Xu hướng (tendency) theo từ điển tiếng Anh chính là hướng tới một mục tiêu, đối tượng nao đó. Trong từ điển tiếng Việt, “xu hướng” là thé hiện sự ngả theo về phía nào đó, “sự thiên về một hướng nào đó” [Hoàng Phê và cộng sự, 1158]. Ở luận văn này, tác giả muốn đề cập đến xu hướng của con người trong tâm lý học.
Tức là, luận văn tìm hiểu xu hướng thể hiện mong muốn của con người, chiều hướng phát triển của chính cá nhân đó, hướng phát triển của họ và thúc đây họ hoạt động theo một mục tiêu nhất định. * Khái niệm “việc làm ” Về khái niệm “việc làm”, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) từng đưa đề cập: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật”. Khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Lao động Việt Nam năm 2019 cũng đề cập “việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cắm” [Quốc hội 2019:5]. Theo đó, về cơ bản, ta có thể hiểu người có việc làm là người như sau: 1) Làm những công việc và được nhận tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật; 2) Làm những công việc thu được lợi nhuận cho bản thân; 20 3) Làm những công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương bởi chủ gia đình làm chủ sản xuất.
* Khái niệm “xu hướng tìm việc làm ở nước ngoài ” Xu hướng xuất ngoại tìm việc làm đang trở thành một sự lựa chọn phô biến trong giới trẻ, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Xuất ngoại tìm việc không chỉ giúp các bạn trẻ có cơ hội trải nghiệm và học hỏi nhiều hơn về các nên văn hóa khác nhau mà còn giúp họ tìm kiếm một công việc tốt hơn và có thu nhập cao hơn, cụ thể như sau: Tăng cường kỹ năng ngôn ngữ: Khi sống và làm việc ở một quốc gia nước ngoài, giới trẻ sẽ phải sử dụng ngôn ngữ địa phương để giao tiếp với đồng nghiệp, khách hàng và cộng đồng. Điều này giúp họ nâng cao kỹ năng ngôn ngữ của mình, tăng khả năng giao tiếp và làm việc với người nước ngoài. Mở rộng kinh nghiệm làm việc: Làm việc tại nước ngoài giúp giới trẻ hiểu rõ hơn về các quy tắc và thói quen trong công việc của quốc gia đó, từ đó nâng cao kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực nghề nghiệp.
Nâng cao khả năng da nhiệm: Khi làm việc ở một quốc gia nước ngoài, giới trẻ thường phải đối mặt với nhiều thách thức khác nhau, từ đó giúp họ nâng cao khả năng đa nhiệm và khả năng giải quyết vấn đề. Tìm kiếm cơ hội nghé nghiệp tốt hơn: Xuất ngoại tìm việc giúp giới trẻ có cơ hội tìm kiếm một công việc tốt hơn với thu nhập cao hơn. Tuy nhiên, xuất ngoại làm việc cũng có những rủi ro và thách thức, bao gồm vấn đề về pháp lý, ngôn ngữ, văn hóa, bảo vệ lao động và tình trạng khủng hoảng kinh tế trong các quốc gia dang phát triển. Điều này đòi hỏi các quốc gia cần chú ý phối hợp với nước sở tại để xây dụng hệ sinh thái riêng hỗ trợ xuất ngoại làm việc.
Trong bài luận, tác giả quyết định sử dụng song song cụm từ “xu hướng tìm việc làm ở nước ngoài” song song với “xuất ngoại tìm việc làm”. 21 * Khái niệm “giới trẻ” “Giới trẻ” không phải là cụm từ mới mẻ hay xa lạ nhưng gan như ai cũng đều ling túng khi trả lời câu hỏi liên quan định nghĩa về “giới trẻ”. Khảo sát về khái niệm này, tác giả chưa thấy có một định nghĩa cụ thể cho "giới trẻ", hay có sự khác biệt tuỳ theo quốc gia, tô chức. Liên Hợp Quốc (UN) không nêu khái niệm cụ thể về “giới trẻ” hay “người trẻ”.
Tuy nhiên, nếu xem xét cách biéu hiện trong các báo cáo, thống kê, ví dụ như sách trang của Liên Hợp Quốc về dân sé, giáo dục, việc làm và y tế, chúng ta có thê xác định “giới trẻ” trong quan điểm của tô chức này là những người thuộc độ tuổi từ 15 - 24. Độ tuổi này trẻ hon so với dé cập “người trẻ” thuộc độ tuổi từ 15 đến 35 theo Hiến chương Thanh niên châu Phi (AYC). Trong khi đó, với UNESCO, “giới trẻ” là một phạm trù tương đối, linh hoạt hơn là chiếu theo độ tuổi cô định. là những người thuộc giai đoạn quá độ chuyên giao từ sự phụ thuộc của trẻ em đến sự độc lập của người lớn và nhận thức về sự mỗi tương quan giữa các thành viên trong một cộng đồng.
Điều này có thé hiểu, theo UNESCO không có một độ tuổi cố định dé xác định “giới trẻ” mà tuỳ vào bối cảnh, lĩnh vực hay phạm vi đề cập. Tìm kiếm điểm chung từ các định nghĩa tthì có thé thấy "giới trẻ" là những người ở độ tuổi có nhiều năng lượng và thích tò mò, khám phá; dang trong quá trình tìm kiếm sự nghiệp, định hướng cuộc sống, và thường xuyên sử dụng công nghệ và các phương tiện truyền thông xã hội đề kết nối và tương tác với nhau. Theo đó, định nghĩa “giới trẻ” rất gần với định nghĩa về thanh niên. Việt Nam quy định về độ tuổi thanh niên tại Điều 1, Luật Thanh niên năm 2020 là “thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.
Đây là chỉ những người trong độ tuổi lao động, có sức trẻ, sức khỏe, đầy năng động và nhiệt huyết, có nhu cầu khăng định bản thân cao, đóng góp chung vào nền kinh tế và sự nghiệp phát trién đất nước”. Phần lớn những người ở độ tuôi 24 dang theo học các trường đại học — chiếm trên 80% số người tốt nghiệp cấp 3, hoặc là đang ở thời kỳ chuyên tiếp lên giai đoạn dân số hoạt động phi kinh tế, hoặc đối với thanh niên ở độ tuổi 20. Nam giới sau khi tốt nghiệp cấp 3 hoặc đại học thường chuyền tiếp lên thị trường lao động muộn hơn do trước đó phải trải qua thời kỳ phục vụ nghĩa vụ quân sự. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tác giả quyết định sử dụng định nghĩa của Hàn Quốc làm cơ sở tham chiếu khách thể nghiên cứu.
Và thống nhất cụm từ “ giới trẻ” là cách gọi khác thay cho từ “thanh niên” ở trong luận van. * Khái niệm “thất nghiệp” Trong kinh tế học, thất nghiệp là chỉ tình trạng người lao động muốn có việc làm nhưng không tìm được việc làm, hoặc không được tổ chức, công ty nào nhận vào làm. Về điều này, Tổ chức Lao động Quốc tế (Interational Labour Organiztion - ILO) từng nhận định ở Điều 20 Công ước 102 (1952): “thất nghiệp là hiện tượng người lao động bị ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”. Tiếp đó, thuật ngữ này đã được bồ sung và hoàn thiện hơn khi nói rằng: “Người thất nghiệp bao gồm toàn bộ số người ở độ tudi làm việc theo quy định trong thời gian điều tra, có kha năng làm việc, nhưng không có việc làm và van đang di tìm kiêm việc làm”.
8 7H AE (2022), 847/24 (Tạm dich: Trung tâm thông tin luật quốc gia (2022), Luật cơ bản về thanh niên) https://www.kr/%EB%B2%95%EB%A0%B9/%EC%B2%AD%EB%85%84%EA%B8%B0%EB%B 3%4B8§%EB%B2%95/4EC46A0%9C3%EC%A1I%B0 [truy cập ngày 23/5/2022] ? OEDC (2021), Young people not in education or employment https://www.org/els/soc/CO_3 5 Young people not in education or employment.pdf?fbclid=IwARI ø796-ds_nKpx0VrpgShcTMSkbZqXzWSilnMLTc4xMYKOgEHI9UtEL2Hs [truy cập ngày 23/5/2022] 23 Như vậy ta có thể thấy, định nghĩa “thất nghiệp” (unemployment) chính là nói về tình trạng bản thân có năng lực và mong muốn được lao động nhưng không có được cơ hội lao động tương ứng với năng lực của bản thân. Trong luận văn này, tác giả sẽ tiến hành phân tích dựa trên định nghĩa về “Thất nghiệp ở tầng lớp thanh niên” hội đủ 03 tiêu chí: thir nhất, đó là người trong độ tuôi lao động và hiện đang chưa có việc làm; thir hai, đó là người có khả năng và sẵn sàng làm việc; thir ba, đó là người đang mong muốn và tích cực tìm kiếm việc làm. Va dé đo lường tinh trạng này, các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội học thường tính tỷ lệ thất nghiệp dựa trên phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động của xã hội. * Khái niệm “lao động đi trú ” Trong tiến trình lich sử nhân loại, một quốc gia có thé đưa lao động nước mình ra nước ngoài làm việc đồng thời tiếp nhận lao động nước khác vào làm việc tại nước mình đã tồn tại như một thực tại khách quan.
Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), “lao động di trú” là khái niệm chỉ một người di trú từ một nước này sang một nước khác dé làm việc vì lợi ích của chính mình và bao gồm bất kỳ người nào đã được thường xuyên thừa nhận là lao động di trú (Theo Diéu 11 Công ước số 97 và Diéu 11 Công ước số 143). Dau hiệu nhận biết lao động di trú ở đây dựa trên những khác biệt về lãnh thổ, biên giới quốc gia, là việc di chuyển của người lao động từ quốc gia mà họ mang quốc tịch này sang quốc gia họ không mang quốc tịch. Tuy nhiên, khái niệm lao động di trú của ILO chỉ sử dụng cho người lao động “đã được thường xuyên thừa nhận là lao động di trú” tức là những người lao động di cư hợp pháp, được chấp nhận của nước đến. Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của tất cả người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (ICRMW) được coi là công ước quốc tế 24 trực tiếp nhất và toàn diện nhất về quyền của người lao động di trú.
ICRMW đã xác định khái niệm lao động di trú rộng hơn và bảo vệ cả quyền của người lao động di trú và thành viên trong gia đình họ. ICRMW giải thích: “Thuật ngữ lao động di trú để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” (Theo khoản 1, Điều 2 ICRMW). ICRMW cũng đưa ra đặc điểm “lao động di trú” là: 1) người “đã, đang và sẽ làm một công việc”; 2) tính chất công việc thực hiện là “công việc có hưởng lương” và 3) địa điểm làm việc là “tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân”.