phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng, 9 tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ XÓA BỎ CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ NHẤT 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm trẻ em và quyền trẻ em Khái niệm trẻ em Trẻ em là khái niệm tồn tại trong nhiều ngành khoa học và mỗi ngành đƣa ra định nghĩa khác nhau dựa trên các tiêu chí và góc độ tiếp cận đặc thù chuyên ngành.
Về mặt sinh học trẻ em là con ngƣời ở giai đoạn từ khi sinh ra cho đến khi cơ thể dậy thì, việc xác định trẻ em dựa trên sự phát triển hoàn thiện về mặt thể chất sinh lý của con ngƣời. Từ góc độ xã hội học thì trẻ em không phải là ngƣời lớn thu nhỏ nhƣng là một ngƣời ở cấp dƣới của sự trƣởng thành cần đƣợc ngƣời lớn chăm sóc và nuôi dƣỡng. Trong ngành tâm lý học, trẻ em là giai đoạn đầu của thời kỳ trƣởng thành về tâm lý và nhân cách. Trẻ vận động và phát triển theo quy luật riêng, sự phát triển tâm lý đó là một quá trình trong đó có khủng hoảng và đột biến.
Sự hoạt động của trẻ qua các giai đoạn phát triển thể chất dƣới dự hƣớng dẫn của ngƣời lớn, sự tác động từ môi trƣờng hay giáo dục làm cho tâm lý của trẻ đƣợc hình thành và phát triển. Trong lĩnh vực pháp lý, khái niệm trẻ em thƣờng đƣợc tiếp cận theo độ tuổi, nghĩa là một ngƣời sẽ đƣợc coi là trẻ em khi ở dƣới một độ tuổi theo quy định. Trẻ em là những ngƣời ở dƣới độ tuổi trƣởng thành, là đối tƣợng cần đƣợc chăm sóc và bảo vệ. Một ngƣời sẽ đạt đƣợc sự trƣởng thành về thể chất và tâm lý ở độ tuổi nhất định.
Việc ngành khoa học pháp lý tiếp cận khái niệm trẻ em theo độ tuổi là phù hợp với sự phát triển của con ngƣời cả về mặt sinh học và xã hội. Theo Công ƣớc của LHQ về Quyền trẻ em (CRC): “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định tuổi thành niên sớm hơn” [22, Điều 1]. Có thể thấy, CRC đã xác định trẻ em là ngƣời dƣới 18 tuổi song đồng thời công ƣớc cũng có quy định mở về độ tuổi của trẻ em. Quy định 18 tuổi là mức tuổi trần nhƣng công ƣớc không bắt buộc mà cho phép các quốc gia lấy tuổi thành niên có thể thấp hơn 18.
CRC không quy định rõ khi nào một ngƣời đƣợc coi là trẻ em nhƣng có quy định “trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý từ trước cũng như sau khi ra đời” [22, tr. Theo công ƣớc thì việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em cần đƣợc thực hiện ngay từ giai đoạn bào thai chứ không đợi đến lúc trẻ chào đời. Do đó, Trẻ em theo công ƣớc CRC có thể hiểu là ngƣời đƣợc tính từ lúc là thai nhi cho tới dƣới 18 tuổi. Tuy nhiên, với quy định mở của công ƣớc các quốc gia thành viên có thể quy định các quyền trẻ em đƣợc bắt đầu ngay khi mang thai hay sau khi ra đời; và về độ tuổi đƣợc coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với công ƣớc.
Công ƣớc số 182 của ILO xác định: thuật ngữ trẻ em sẽ áp dụng cho những người dưới 18 tuổi [32, Điều 1]. Khác với Công ƣớc về Quyền trẻ em, Công ƣớc 182 không để mở khả năng cho phép quốc gia thành viên quy định độ tuổi trẻ em thấp hơn 18. Xuất phát từ mục đích của công ƣớc là xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất do đó việc xác định tuổi của trẻ em dƣới 18 tuổi đảm bảo cho những cá thể dƣới 18 tuổi đƣợc bảo vệ khỏi các hình thức lao động tồi tệ khi chƣa đủ trƣởng thành về thể chất và tinh thần. Là thành viên của cả hai công ƣớc CRC và Công ƣớc 182, Việt Nam cũng có những quy định về trẻ em phù hợp với pháp luật quốc tế.
Luật Trẻ em năm 2016 quy định: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi [30, Điều 1]. Việc quy định trẻ em là công dân đồng nghĩa với việc xác định tuổi của trẻ em là từ khi sinh ra cho tới dƣới 16 tuổi. Dù Việt Nam quy định độ tuổi trẻ em là dƣới 16 tuổi, thấp hơn so với độ tuổi trẻ em của CRC, nhƣng không bị coi là trái Công ƣớc CRC do phù hợp với quy định mở của Công ƣớc này. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, trong lĩnh vực pháp lý trẻ em đƣợc xác định là một ngƣời ở độ tuổi nhất định, độ tuổi này tùy thuộc vào pháp luật của từng quốc gia nhƣng không trái với quy định của luật quốc tế.
Trẻ em phát triển và trƣởng thành dần theo thời gian từng độ tuổi, pháp luật các quốc gia có thể căn cứ vào từng độ tuổi khác nhau mà quy định cho trẻ em tham gia vào các quan hệ pháp luật tùy theo khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm về hành vi của trẻ. Khái niệm quyền trẻ em Quyền trẻ em là thuật ngữ đƣợc nhắc đến kể từ sau Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1924. Trong lịch sử, trẻ em đƣợc coi là “tài sản” của cha mẹ, không có quyền quyết định hay tham gia vào các vấn đề của chính bản thân mình. Việc bảo vệ trẻ xuất phát từ tình thƣơng, sự che chở chứ không phải từ nghĩa vụ bảo vệ quyền [14, tr.
Trong một thời gian dài quá trình công nghiệp hóa ở châu Âu kéo theo tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em một cách phổ biến. Đỉnh điểm là cuộc Chiến tranh Thế Giới lần thứ nhất với những hậu quả nặng nề đã đẩy rất nhiều trẻ em vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: không đƣợc chăm sóc hay nuôi dƣỡng đầy đủ, đói nghèo và bệnh tật, bị phân biệt đối xử - đặc biệt là các trẻ em gái. Năm 1919, một số tổ chức cứu trợ trẻ em đã đƣợc thành lập ở Anh và Thụy Điển. Năm 1924, khi Tuyên bố Geneva về quyền trẻ em đƣợc Hội Quốc liên thông qua thì vấn đề bảo vệ “quyền trẻ em” mới chính thức đƣợc đề cập.
Tuyên bố đánh dấu sự ra đời của khái niệm “quyền trẻ em” và là bƣớc ngoặt quan trọng trong nhận thức và hành động về bảo vệ trẻ em từ góc độ quyền. Tuyên bố thể hiện quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của trẻ em cũng nhƣ bảo vệ trẻ em trƣớc những bạo lực và sự xâm hại, trẻ em cần có các quyền để sống và phát triển lành mạnh và an toàn. Quyền trẻ em đảm bảo cho trẻ không còn chỉ là ngƣời tiếp thu thụ động lòng nhân từ của ngƣời lớn mà là chủ thể tham gia của quá trình phát triển. Cha mẹ, các chủ thể khác trong xã hội có nghĩa vụ pháp lý trong bảo vệ trẻ em.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cùng với sự phát triển của luật nhân quyền quốc tế, quyền của trẻ em đƣợc xem là quyền con ngƣời và trẻ em trở thành chủ thể đƣợc hƣởng đầy đủ các quyền con ngƣời bình đẳng nhƣ những ngƣời trƣởng thành. Tuy nhiên, trẻ em là đối tƣợng có sự phát triển về thể chất và tinh thần chƣa hoàn thiện, còn non nớt và cần đƣợc ngƣời lớn chăm sóc, nuôi dƣỡng. Do đó trẻ em cần đƣợc quy định riêng với các quyền đặc thù để đảm bảo sự chăm sóc, giáo dƣỡng và bảo vệ đặc biệt. Dựa trên cách tiếp cận đó, năm 1959 LHQ đã thông qua Tuyên bố LHQ về Quyền trẻ em và là tiền đề để xây dựng Công ƣớc về quyền trẻ em năm 1989.
Cho đến nay CRC vẫn là công ƣớc cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em. Là công ƣớc có nhiều thành viên nhất của hệ thống luật nhân quyền quốc tế, CRC đã cho thấy quyền trẻ em đã trở thành khái niệm đƣợc thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới. CRC đã đƣa ra bốn nhóm quyền cơ bản mà trẻ em trên toàn thế giới đƣợc hƣởng, bao gồm: - Nhóm quyền đƣợc sống còn (các Điều 5, 6, 24, 26, 27): đảm bảo trẻ đƣợc sống và đáp ứng các nhu cầu tồn tại tối thiểu. - Nhóm quyền đƣợc bảo vệ (các Điều 2, 7, 8, 9, 10, 11, 16, 19, 20, 21, 22, 23, 25, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40): bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ - Nhóm quyền đƣợc phát triển (các Điều 17, 18, 28, 29, 31, 32): Bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính quy và không chính quy) và quyền đƣợc có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ.
Quyền đƣợc chăm sóc sức khoẻ, đƣợc học tập và phát triển - Nhóm quyền đƣợc tham gia (các Điều 12, 13, 14, 15, 17, 30): Bao gồm quyền đƣợc bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có liên quan tới bản thân, quyền đƣợc lắng nghe và đƣợc kết giao hội họp. Quyền đƣợc tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên thực tế không có văn kiện pháp lý nào đƣa ra định nghĩa quyền trẻ em là gì. Tuy nhiên, tiếp cận từ góc độ là một quyền con ngƣời thì quyền trẻ em sẽ mang đầy đủ các đặc trƣng của quyền con ngƣời nói chung.
Đồng thời do trẻ em là đối tƣợng thuộc nhóm dễ bị tổn thƣơng cần có những quy định đảm bảo cho trẻ nhận đƣợc sự chăm sóc, bảo vệ có hiệu quả và phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và xã hội. Nhƣ vậy có thể khái quát: Quyền trẻ em là những quyền tự nhiên, vốn có mà trẻ em được hưởng, được tôn trọng, bảo vệ và thực thi nhằm đảm bảo sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện của trẻ [1, tr. Khái niệm lao động trẻ em Hiện nay trong hệ thống pháp luật quốc tế chƣa có một quy định chung thống nhất về khái niệm lao động trẻ em. Khác với khái niệm trẻ em, lao động trẻ em đòi hỏi ngoài việc tiếp cận ở góc độ độ tuổi còn phải tiếp cận từ góc độ tính chất công việc mà chủ thể phải làm.