Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM 1. KHÁI NIỆM TRẺ EM, LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM 1. Khái niệm trẻ em Để hiểu khái niệm xóa bỏ lao động trẻ em, trước hết cần làm rõ khái niệm trẻ em. Các xã hội thường nhìn nhận trẻ em theo các góc độ, đó là tình thương, lòng nhân đạo, sự phát triển và vì sự sống còn và phát triển của trẻ.
Tình thương: Ở góc độ này trẻ em được coi như những chủ thể phải được hưởng tình thương của xã hội. Nó biểu hiện ở những hành động nhân ái, kêu gọi ý thức trách nhiệm và bảo vệ trẻ em khỏi những hoàn cảnh đói rách, bệnh tật và các đau khổ khác. Những hành động kiểu này thường dễ dàng được dấy lên trong xã hội về các hình ảnh về các hoàn cảnh đau khổ mà trẻ em phải gánh chịu, thường có tác động rất mạnh mẽ đến lòng trắc ẩn của mọi người. Tuy nhiên, do những hành động kiểu này thường chỉ được xuất hiện khi trẻ em gặp những hoàn cảnh khó khăn nên chúng chỉ có tác dụng tức thời nhằm giải quyết các tình huống đó.
Nói cách khác, tác dụng của các hành động kiểu này thường mang tính giai đoạn, không liên tục. Sau khi giải quyết xong những tình huống khó khăn mà trẻ em phải gánh chịu, những nhà từ thiện cảm thấy hài lòng và họ cảm giác rằng vấn đề đã được giải quyết. Nhưng thực tế không phải như vậy, bởi lẽ những hành động tức thời đó chỉ mới khắc phục được những vấn đề tạm thời, trước mắt mà không giải quyết được những nguyên nhân chủ yếu của các vấn đề mà trẻ em gặp phải và 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không đưa ra được những giải pháp dài hạn, triệt để. Nhân đạo: Dưới góc độ này, trẻ em được coi là đối tượng cần sự bảo vệ.
Mục tiêu chính là cứu cuộc sống của trẻ em và bảo vệ trẻ em khỏi những nguy cơ xâm hại, đặc biệt khi trẻ em rơi vào những hoàn cảnh nguy hiểm. Điều làm cho quan niệm ở góc độ này khác với quan niệm ở góc độ tình thương là ở tính chất của những vấn đề mà nó giải quyết. Đó là những trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, điểm giống nhau giữa quan niệm ở góc độ nhân đạo và góc độ tình thương là cách thức giải quyết vấn đề.
Trong cả hai góc độ, các hành động đều chỉ nhằm chấm dứt tức thời những nỗi đau khổ và nguy cơ mà trẻ em phải gánh chịu, thay vì tập trung giải quyết những nguyên nhân gây ra các nỗi đau khổ và nguy cơ đó. Phát triển: Quan niệm ở góc độ này cho rằng trẻ em cần phải có các điều kiện thích hợp để phát triển và trưởng thành, trở thành những công dân chín chắn, hữu ích, có năng lực như người lớn. Do vậy, các nhu cầu của trẻ em thường được xem xét từ quan điểm của người lớn. Sự sống còn và phát triển: Cách tiếp cận này bao gồm các yếu tố của các cách tiếp cận từ góc độ Nhân đạo và Phát triển.
Mặc dù có những yếu tố hợp lý nhất định, xong các cách tiếp cận kể trên đều bị chỉ trích. Người ta cho rằng các cách tiếp cận này đều xem xét trẻ em trong sự tách biệt khỏi bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa cụ thể. Điều này có nghĩa là môi trường chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa mà trẻ em sống trong đó có ảnh hưởng đến cách nhìn nhận của xã hội về trẻ em. Ví dụ, ở một số nước, có quan điểm cho rằng, càng để cho trẻ em "lăn lộn" ngoài xã hội sớm và gặp những hoàn cảnh khắc nghiệt thì mới tạo cho chúng năng lực.
Điều đó cũng giải thích tại sao trong các chính sách kinh tế, xã hội của các quốc gia lại cần thiết phải có những chương trình đặc biệt dành cho trẻ em. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh đó, khái niệm trẻ em còn có thể tiếp cận từ các góc độ khác như từ sự phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hoặc về vị thế xã hội… xong, các cách tiếp cận đó đều tương đối trừu tượng, khó áp dụng phổ biến. Vì vậy, người ta thường sử dụng cách tiếp cận theo độ tuổi. Điều đó có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào năm sinh của người đó tại thời điểm xác định.
Tuy nhiên, các xã hội cũng có quan niệm khác nhau về độ tuổi được coi là trẻ em. Thực tế cho thấy, nhận thức về độ tuổi được coi là trẻ em ở các xã hội dao động trong một biên độ khá rộng và ít nhiều bị ảnh hưởng của sự phân biệt về giới tính. Ví dụ, trong các xã hội phương Đông truyền thống, thông thường trẻ em gái từ 13 tuổi trở nên có thể được xây dựng gia đình (điều này cũng được coi là dấu mốc của sự trưởng thành), còn với trẻ em trai, độ tuổi đó là 16. Tại một số xã hội thuộc các châu lục khác, độ tuổi trưởng thành có thể lập gia đình với trẻ em gái là từ 14 tuổi, trẻ em trai từ 17 tuổi… Sự ra đời của các văn bản pháp luật quốc tế về quyền trẻ em đòi hỏi phải quy định cụ thể về độ tuổi được coi là trẻ em để đảm bảo các văn kiện đó được áp dụng một cách thống nhất.
Trước kia, các văn kiện pháp luật quốc tế có liên quan xác định trẻ em là những người dưới 15 tuổi. Tuy nhiên, Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 đưa ra quy định mới, theo đó: "Trẻ em có nghĩa là người dưới mười tám tuổi" [16]. Bởi công ước này được coi là điều ước quốc tế toàn diện, tiến bộ nhất về vấn đề quyền trẻ em tính đến thời điểm hiện nay nên quy định kể trên có thể coi là định nghĩa chung về trẻ em trên thế giới. Nhưng công ước có đưa ra trường hợp ngoại lệ: "trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" [16].
Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam có sử dụng khái niệm trẻ em và được quy định tại Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2004: "Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi" [29]. Còn theo Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: "Người đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên" [30]. Trong khi đó, trong pháp luật lao động, người chưa thành niên được coi là những người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi; trong pháp luật hình sự, bị can, bị cáo, người bị hại chưa thành niên là những người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, tất cả các cách ngành luật kể trên đều lấy giới hạn dưới 18 tuổi là người chưa thành niên. Giới hạn này bằng với mức quy định độ tuổi được coi là trẻ em trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và Công ước 182 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). Như vậy, pháp luật Việt Nam công nhận người thành niên là người đủ 18 tuổi trở lên, khi chưa đủ 18 tuổi tức là người chưa thành niên. Còn khái niệm trẻ em theo quy định của pháp luật Việt Nam không hoàn toàn trùng với quy định của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em.
Xét về độ tuổi, thì trẻ em theo quan niệm của Liên hợp quốc (dưới 18 tuổi) tương ứng với khái niệm "người chưa thành niên" (dưới 18 tuổi) của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, do chúng ta sử dụng đồng thời cả hai thuật ngữ này, nên đã gây ra khá nhiều rắc rối trong việc áp dụng cũng như nghiên cứu luật. Khái niệm lao động trẻ em Khác với khái niệm trẻ em, khái niệm về "lao động trẻ em" đòi hỏi ngoài góc độ độ tuổi, còn phải tiếp cận từ góc độ tính chất công việc mà chủ thể phải làm. Về góc độ độ tuổi, trước đây những cuộc điều tra về vấn đề lao động trẻ em trên thế giới chỉ xét đến các đối tượng dưới 15 tuổi.
Tuy nhiên, sau khi Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em và Công ước số 182 của ILO được ban hành, trong đó đưa ra định nghĩa trẻ em là những người dưới 18 tuổi thì độ tuổi này được cộng đồng quốc tế coi là mốc chuẩn để xác định phạm vi 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ thể của khái niệm lao động trẻ em. Về góc độ tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Nói cách khác, khái niệm này đề cập đến những công việc và điều kiện làm việc không thể chấp nhận được đối với trẻ em. Trên thực tế, bởi danh giới giữa những công việc và điều kiện làm việc có thể và không thể chấp nhận được đối với trẻ em khá trừu tượng, nhận thức về vấn đề đó phụ thuộc rất lớn vào phong tục tập quán, tâm lý của các dân tộc và hoàn cảnh kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, nên khó có thể đua ra một định nghĩa bao quát tất cả các dấu hiệu của hiện tượng lao động trẻ em.
Mặc dù vậy, từ cách tiếp cận kể trên và từ các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan của ILO, có thể định nghĩa như sau: Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những người dưới 18 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập, vui chơi, giải trí. Cần phân biệt giữa khái niệm "lao động trẻ em" với một số khái niệm khác có liên quan. Có hai khái niệm thường bị nhầm lẫn với khái niệm lao động trẻ em, đó là khái niệm trẻ em tham gia hoạt động kinh tế và trẻ em tham gia làm việc. Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong công tác điều tra, thống kê về lao động việc làm nói chung và lao động trẻ em nói riêng ở nhiều quốc gia trên thế giới.