Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC 1. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC 1. Sự ra đời và tồn tại của lao động cưỡng bức Lao động cưỡng bức có nguồn gốc xa xưa từ chế độ nô lệ. Trong chế độ đó, nô lệ được coi như một loại công cụ biết nói, một loại tài sản mà người khác có thể tự do sở hữu, khai thác và trao đổi.
Họ có thể bị đánh đập, thậm chí bị giết nếu không thực hiện các công việc mà chủ nô yêu cầu. Khi xã hội phát triển, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, mọi hình thức chiếm hữu, buôn bán và sử dụng nô lệ, ép buộc người khác lao động đều bị coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên, trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau không phải lúc nào sự bình đẳng đó cũng được đảm bảo. Một số người lợi dụng tình trạng bất bình đẳng về kinh tế, về địa vị hoặc các bất bình đẳng khác để ép buộc, cưỡng bức người khác lao động.
Điều này không chỉ diễn ra ở các nước nghèo, kém phát triển mà diễn ra ngay ở các quốc gia phát triển. Theo Các Mác, trong chế độ tư bản, các nhà tư sản đã bóc lột công nhân thông qua phần giá trị thặng dư do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra thêm ngoài giá trị sức lao động của họ. Lao động cưỡng bức tồn tại dưới rất nhiều hình thức khác nhau: Hình thức thứ nhất là lao động cưỡng bức để trả nợ thường được đề cập như là "lao động gán nợ" rất phổ biến ở Nam Á, cũng như được biết đến rộng rãi như "nô lệ gán nợ". Hình thức này liên quan đến một khoản vay hoặc ứng trước tiền công cho một người lao động từ một chủ sử dụng lao động hoặc người thuê tuyển lao động, đổi lại người lao động cầm cố sức lao động của mình và đôi khi sức lao động của thành viên gia đình để trả cho khoản 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tuy nhiên, thời hạn của khoản vay hoặc công việc có thể là thời hạn mà người lao động có thể bị mắc kẹt trong nhiều năm mà không có khả năng trả được khoản vay. Nô lệ gán nợ được định nghĩa trong Công ước bổ sung của Liên hiệp quốc về Xóa bỏ tình trạng nô lệ, buôn bán nô lệ và các thiết chế và thực tiễn tương tự như nô lệ là vị thế hay điều kiện nảy sinh từ sự thế chấp của người mắc nợ bằng các dịch vụ của cá nhân họ hoặc các dịch vụ của một người dưới sự kiểm soát của người mắc nợ như một sự bảo đảm đối với khoản nợ, nếu giá trị của các dịch vụ đó được đánh giá là không áp dụng cho việc thanh toán khoản nợ hoặc thời gian và bản chất của các dịch vụ đó không bị giới hạn và không được xác định. Hình thức phổ biến thứ hai là lao động cưỡng bức trong các nhà tù. Theo pháp luật quốc tế, lao động bắt buộc đối với tù nhân nói chung không được coi là lao động cưỡng bức.
Tuy nhiên, nếu công việc không mang tính tự nguyện do những người chưa bị tòa kết án thực hiện và không được một cơ quan công quyền giám sát thì được coi là lao động cưỡng bức. Tương tự như vậy, công việc không tự nguyện do một tù nhân thực hiện vì lợi ích của một cơ sở tư nhân cũng được coi là lao động cưỡng bức. Hình thức phổ biến thứ ba là lao động cưỡng bức do hậu quả của buôn bán người. Buôn bán người là di chuyển một người qua biên giới vì mục đích bóc lột.
Trong những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, giao thông vận tải, buôn bán người đã diễn ra dưới nhiều hình thức và phương diện mới tinh vi hơn. Buôn bán người ảnh hưởng đến các nước đang phát triển, các nước trong quá trình chuyển đổi và cả các nước phát triển. Định nghĩa cơ bản về buôn bán người được ghi nhận trong Nghị định thư Palermo năm 2000. Định nghĩa phân biệt buôn bán người từ hành vi buôn lậu bằng cách tập trung vào các yếu tố bóc lột, lừa đảo và ép buộc.
Theo Nghị định thư này: Buôn bán người có nghĩa là việc tuyển chọn, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người bằng các phương thức đe 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dọa hoặc sử dụng vũ lực hoặc các hình thức khác của ép buộc, bắt cóc, lừa đảo, gian lận, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương, hoặc bằng cách đưa hoặc nhận các khoản thanh toán hoặc trợ cấp để đạt được sự đồng ý của một người có quyền kiểm soát đối với người khác với mục đích bóc lột. Bóc lột bao gồm, ở mức độ tối thiểu, là sự bóc lột mại dâm những người khác hoặc các hình thức khác của bóc lột tình dục, lao động hoặc các dịch vụ bị cưỡng bức, nô lệ hoặc các thực tiễn tương tự như nô lệ, khổ sai hoặc loại bỏ các bộ phận cơ thể [39]. Định nghĩa buôn bán người được quy định trong Nghị định thư năm 2000 không như khái niệm buôn bán người di cư bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không được bổ sung trong Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Theo đó, buôn bán người di cư có nghĩa là mua bán để đạt được, trực tiếp hay gián tiếp, lợi ích về tài chính hoặc vật chất khác, đối với một người được đưa bất hợp pháp tới một quốc gia mà người đó không phải là công dân hoặc cư dân lâu dài.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) điều quan trọng là xác định rõ không phải tất cả các biểu hiện của lao động cưỡng bức đều là kết quả của buôn bán người và không phải tất cả các hoạt động liên quan đến buôn bán người cũng dẫn đến lao động cưỡng bức, nhưng buôn bán người là một trong những con đường chủ yếu dẫn đến cưỡng bức lao động. Một hình thức cưỡng bức lao động rất phổ biến khác đó là ép buộc trong việc làm. Có rất nhiều hình thức gian lận và ép buộc trong việc làm có thể coi là cưỡng bức lao động trong các hoàn cảnh cụ thể: giữ hoặc không trả công, giữ các giấy tờ tùy thân và lừa người khác để ép nợ là một số ví dụ của sự ép buộc trong việc làm. Ngoài ra, hình thức cưỡng bức lao động gắn với hợp đồng lao động mang tính bóc lột cũng là một trong các hình thức cưỡng bức lao động phổ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biến trên thế giới.
Ngày nay, hình thức này có thể được phát hiện thấy ở bất cứ đâu trên thế giới. Ví dụ lao động di cư ký hợp đồng lao động với chủ thầu lao động nhưng lại làm việc cho một chủ sử dụng lao động khác. Hợp đồng lao động mà họ ký với những điều kiện thấp hơn nhiều so với công sức lao động mà họ bỏ ra khi làm việc trực tiếp với chủ sử dụng lao động. Trên thực tế, nạn nhân của tình trạng cưỡng bức lao động có thể gặp phải rất nhiều hình thức đe dọa khác nhau từ phía người cưỡng bức lao động, có thể kể đến một số dạng đe dọa thường gặp sau: - Sử dụng vũ lực chống lại người lao động hoặc thân nhân của người lao động; - Đe dọa bắt, giam giữ người lao động hoặc thân nhân của người đó; - Đe dọa áp dụng các trừng phạt tài chính đối với người lao động hoặc thân nhân của người đó; - Đe dọa tố cáo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của người lao động hoặc thân nhân của người đó; - Đe dọa sa thải hoặc phân biệt đối xử khi tuyển dụng đối với người lao động hoặc thân nhân của người đó; - Đe dọa ngăn cản người lao động hoặc thân nhân của người đó trong việc tham gia sinh hoạt cộng đồng, xã hội; - Đe dọa tước bỏ các đặc quyền mà đáng lẽ người lao động hoặc thân nhân của người đó được hưởng; - Đe dọa tước đoạt nhu yếu phẩm, đuổi khỏi nơi cư trú đối với người lao động hoặc thân nhân của người đó; - Đe dọa chuyển người lao động hoặc thân nhân của người đó sang làm công việc có điều kiện tồi tệ hơn; - Đe dọa làm mất vị thế xã hội của người lao động hoặc thân nhân của người đó.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng cưỡng bức lao động. Đầu tiên phải kể đến là nguyên nhân chủ quan từ phía người sử dụng lao động với mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, một số người sử dụng lao động tìm các thủ đoạn buộc người lao động bị rơi vào tình trạng yếu thế phải phục vụ theo ý muốn của mình mà không có sự tự nguyện thực sự của người lao động. Người lao động đặc biệt là người lao động nghèo khổ trong nhiều trường hợp phải chấp nhận sự áp đặt của một số người giàu để duy trì sự tồn tại của mình. Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân khác cũng góp phần duy trì sự tồn tại của lao động cưỡng bức như sự lỏng lẻo của hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền lợi con người, nhất là các quy định về việc xóa bỏ bất công trong quan hệ lao động; năng lực tuyên truyền và thực thi pháp luật của các cơ quan chức năng ở các quốc gia, các vùng lãnh thổ không đồng đều; ý thức tuân thủ pháp luật của người sử dụng lao động chưa cao; nhận thức pháp luật của người lao động còn thấp.
Xu hướng và diễn biến của lao động cưỡng bức trên thế giới Lao động cưỡng bức hiện có mặt trong mọi khu vực và loại hình kinh tế và chủ thể của lao động cưỡng bức kiểu mới là tư nhân chứ không phải là nhà nước. Theo ILO, có một số khu vực kinh tế nhạy cảm, dễ xảy ra hiện tượng cưỡng bức lao động đó là: nông nghiệp và làm vườn; xây dựng; dệt may trong điều kiện lao động tồi tệ; vui chơi và giải trí; khai mỏ và khai thác gỗ; chế biến thực phẩm và đóng gói; vận tải; giúp việc gia đình và các công việc chăm sóc và làm vệ sinh khác. Đặc biệt lao động cưỡng bức là hệ quả của buôn bán người có tác động rất lớn đến những người lao động làm việc ở những khu vực bên lề nền kinh tế chính thức, với việc làm bất hợp pháp hoặc tình trạng di cư.