CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Người dưới 16 tuổi Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì “Người chưa thành niên” là người 3 4 chưa đủ 18 tuổi và “Trẻ em” là người người dưới 16 tuổi. Từ những quy định trên ta thấy rằng người chưa thành niên theo quy định của pháp luật Việt Nam bao gồm hai bộ phận: trẻ em (người dưới 16 tuổi) và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Người dưới 16 tuổi hay còn gọi là trẻ em là những người chưa phát triển toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần, dễ bị xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp, dễ bị tổn thương nhất là khi tham gia vào quá trình tố tụng.
Người dưới 16 tuổi là người chưa trưởng thành, chưa nhận thức được đầy đủ, cũng như bị hạn chế trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, vì vậy họ cần người giám hộ, người đại diện để thay mặt bảo vệ họ đặc biệt là trong quá trình tố tụng. Qua đó thấy được, người dưới 16 tuổi là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt, bởi “trẻ em chính là tương lai của đất nước”, pháp luật cũng có những chế định riêng bảo vệ cho đối tượng này. Hơn thế nữa, năm 1990, Việt Nam là nước đầu tiên của Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em. Điều này một lần nữa khẳng định Việt Nam đang từng bước nổ lực để bảo vệ tốt nhất cho thế hệ tương lai này.
Chính vì thế, khi một người dưới 16 tuổi phải tham gia vào một quy trình tố tụng, với đặc điểm tâm lý dễ bị tổn thương thì đòi hỏi pháp luật phải có những cơ chế đặc biệt dành cho đối tượng này để không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của họ. 3 Khoản 1 Điều 21 Bộ Luật Dân sự 2015 4 Điều 1 Luật Trẻ em 2016 10 Với các vụ án xâm hại tình dục mà người dưới 16 tuổi là bị hại thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ càng trở nên quan trọng hơn. Tuổi của người dưới 16 tuổi càng nhỏ thì khi bị tác động bởi một hành vi vi phạm pháp luật như xâm hại tình dục thì ảnh hưởng sẽ càng lớn, ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần cũng như sự phát triển bình thường của họ. “Những hậu quả về mặt cơ thể có thể thấy ngay được ở trẻ em như: gây tổn thương cơ quan sinh dục, và nguy hiểm hơn là nguy cơ lây lan các bệnh lây qua đường tình dục trong đó có căn bệnh chết người HIV/AIDS.
Với trẻ lớn hơn thì nguy cơ có thai được phát hiện muộn không phải là trường hợp hiếm gặp. Với những trường hợp này thì sức khỏe và tương lai của cả bà mẹ và thai nhi không được đảm bảo và thường ở trong tình trạng rất mong manh, nguy hiểm. Ngoài những hậu quả để lại về mặt cơ thể thì việc xâm hại tình dục còn mang lại cho trẻ những tổn thương về mặt tâm thần: trẻ em bị xâm hại tình dục có thể biểu hiện những nổi loạn về 5 hành vi cũng như tâm thần biểu hiện từ nhẹ tới nặng, ngắn hạn cũng như dài hạn”. Hơn thế nữa, một số trường hợp người phạm tội là người quen của bị hại, thậm chí cá biệt có các trường hợp là người thân của người bị hại.
Người bị hại “Người bị hại” là một khái niệm phổ biến trong khoa học pháp lý, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự, bởi “người bị hại” là một trong những NTGTT được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Pháp luật tố tụng hình sự các nước dùng những thuật ngữ khác nhau để nói về “người bị hại”, chẳng hạn pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga hay Việt Nam dùng thuật ngữ “người bị hại”, trong khi đó pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì dùng thuật ngữ “người tố cáo”. Ngoài ra người bị hại còn được gọi là “người bị thiệt hại” hay gọi là “nạn nhân” hay “dân sự 5 Trần Văn Nhiên (2010), Bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ người bị hại thực trạng và giải pháp hoàn thiện, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. Tựu trung lại thì những thuật ngữ trên đều nói về “người bị hại” và tác giả thấy thuật ngữ “người bị hại” là thể hiện đầy đủ bản chất và phù hợp nhất.
Vậy, như thế nào là “người bị hại”? “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” định nghĩa Người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài 7 sản chứ không thể là pháp nhân”. Theo pháp luật Việt Nam, Điều 51 BLTTHS Việt Nam năm 2003 định nghĩa “Người bị hại” là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra. Nhận thấy định nghĩa “người bị hại” trong BLTTHS năm 2003 còn nhiều điểm chưa rõ, cũng như còn gây nhiều tranh cãi, BLTTHS năm 2015 sửa đổi định nghĩa này như sau: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”.
Định nghĩa về “bị hại” của BLTTHS năm 2015 đã làm rõ những vướng mắc trước đây của định nghĩa này trong BLTTHS năm 2003, cụ thể: Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 đã thay đổi từ “người bị hại” thành “bị hại”, đây là sự thay đổi phù hợp, bởi định nghĩa theo BLTTHS năm 2003 đã gây ra tranh cãi về việc “người bị hại” chỉ bao gồm thể nhân hay “người bị hại” bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, tổ chức, trong đó ý kiến đa số cho rằng “người bị hại” chỉ bao gồm thể nhân không bao gồm pháp nhân. BLTTHS 2015 đã nêu rõ bị hại gồm cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức, còn người bị hại là cá nhân. Thứ hai, định nghĩa của BLTTHS năm 2003 đặt ra câu hỏi về tính chất của việc “bị thiệt hại” có bao gồm “bị thiệt hại gián tiếp” không, hay chỉ bao gồm “gây thiệt hại trực tiếp” thì nay BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể người bị hại phải là cá nhân trực 6 Lê Tiến Châu (2007), “Người bị hại trong tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 1, tr38 7 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, tr. 12 tiếp bị thiệt hại, quy định này là phù hợp vì những thiệt hại gián tiếp là khó xác định và không phải do trực tiếp hành vi phạm tội gây ra.
Thứ ba, theo BLTTHS năm 2003 thì khi thiệt hại xảy ra trên thực tế thì người bị thiệt hại đó mới được xem là “người bị hại”, đây được xem là một bất cập khi luật hình sự có tội phạm chưa đạt và chưa hoàn thành, khi đó thiệt hại tuy chưa xảy ra trên thực tế nhưng hành vi đã cấu thành tội phạm, trong trường hợp này nên xem cả người bị đe dọa gây thiệt hại là “người bị hại”. Khắc phục bất cập trên, BLTTHS năm 2015 đã quy định thiệt hại gồm thiệt hại do tội phạm gây ra và đe dọa gây ra. Còn trong pháp luật nước ngoài, pháp luật Liên Bang Nga định nghĩa: “Được coi như nạn nhân sẽ là một thể nhân, người có thể chất, tài sản hoặc đạo đức thiệt hại do tội phạm gây ra, cũng như một pháp nhân, nếu tài sản và doanh nghiệp của anh ta danh tiếng đã bị tổn hại bởi tội ác. Quyết định công nhận một người là nạn nhân sẽ được chính thức 8 hóa bằng cách giải quyết của người hỏi, điều tra viên hoặc của tòa án”.
Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ tìm hiểu về “người bị hại” dưới 16 tuổi, tức “bị hại” dưới góc độ là cá nhân, do đó kết luận lại, người bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi Khoản 8 Điều 4 Luật Trẻ em 2016 định nghĩa hành vi “xâm hại tình dục trẻ em” là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức. Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi (sau đây gọi là Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP) cũng định nghĩa thuật ngữ “xâm 8 Điều 42 Bộ luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2012 13 hại tình dục người dưới 16 tuổi”, suy cho cùng hai thuật ngữ này là một vì “trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016), Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP bổ sung thêm về định nghĩa này như sau: “Xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ, người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ…)”. Hai văn bản khác nhau cùng định nghĩa một thuật ngữ sẽ gây ra những khó khăn cho các chủ thể thực thi pháp luật, do đó cần thống nhất lại vấn đề này.
Xem xét tính hoàn thiện của thuật ngữ trên thì “xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi” theo Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP sẽ đầy đủ và cụ thể hơn định nghĩa trong Luật Trẻ em năm 2016.