mở đầu của quá trình tố tụng trên cơ sở đảm bảo các điều kiện thụ lý. Theo đó, (i) Vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng có đơn yêu cầu ly hôn phải có tranh chấp về tài sản chung, nuôi con chung; (ii) Vụ án ly hôn chưa được Tòa án thụ lý giải quyết trước đó bằng quyết định, bản án (nếu đã bị Tòa án xử bác đơn ly hôn trước đó thì phải đủ thời gian là mười hai tháng); (iii) Vợ chồng phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự, kể cả trường hợp chưa đủ mười tám tuổi vẫn có quyền yêu cầu ly hôn vì pháp luật HN&GĐ cho phép những người đang ở tuổi mười tám được quyền kết hôn; (iv) Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình, trường hợp không đúng thẩm quyền thì hướng dẫn cho đương sự nộp đơn khởi kiện tài Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Khi thụ lý vụ án ly hôn, cần xem xét phân biệt với thụ lý yêu cầu ly hôn. Trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, thỏa thuận được chia tài sản chung, nuôi con chung thì Tòa án thụ lý yêu cầu ly hôn để giải quyết theo thủ tục việc dân sự.
Đây là trường hợp không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, do đó nếu đủ căn cứ ly hôn Tòa án sẽ công nhận thuận tình ly hôn. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn được Toà án giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Toà án chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về vấn đề thuận tình ly hôn nếu đương sự thỏa thuận được ba vấn đề sau: 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thỏa thuận về việc tự nguyện ly hôn; thỏa thuận về việc chia hay không chia tài sản chung; thỏa thuận về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con. Trường hợp các bên thay đổi sự thỏa thuận bằng một sự thỏa thuận mới hoặc có tranh chấp và không giải quyết được vấn đề đã thỏa thuận trước đó thì đình chỉ giải quyết việc dân sự, sau đó hướng dẫn đương sự khởi kiện vụ án ly hôn có tranh chấp.
Khi thụ lý vụ án ly hôn, đối với trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng sau ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà không có đăng ký kết hôn có yêu cầu ly hôn vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng TAND phải thụ lý vụ án ly hôn vì khi Luật HN&GĐ và Nghị quyết số 35/ NQ-QH hướng dẫn thi hành luật thì pháp luật tố tụng lúc đó chưa có sự phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự. Chia sẻ ý kiến này có tác giả cho rằng: "để tránh xung đột giữa BLTTDS và Nghị quyết 35/NQ-QH, đồng thời để phù hợp với thực tế, thiết nghĩ cơ quan có thẩm quyền cần căn cứ vào Điều 311 BLTTDS để hướng dẫn: đối với vụ việc không công nhận là vợ chồng nếu không có tranh chấp thì cần thụ lý giải quyết là một việc dân sự" [33, tr. Theo loại ý kiến thứ hai, TAND thụ lý yêu cầu ly hôn là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ Luật HN&GĐ 2000 tại Điều 89 quy định: "Toà án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này". Đồng thời, khoản 2 Điều 28 của BLTTDS chỉ quy định những yêu cầu về thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà không có quy định về yêu cầu không công nhận vợ chồng. Hiện nay, trong các Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2006/ NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC vẫn chưa hướng dẫn cụ thể về vấn đề này nên việc nhận thức và áp dụng pháp luật còn thiếu thống nhất. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi xem xét đủ các điều kiện, Tòa án thông báo cho đương sự nộp tạm ứng án phí và quyết định thụ lý vụ án.
Thụ lý vụ án ly hôn là công việc đầu tiên của Tòa án, là bước mở đầu của quá trình tố tụng. Nếu không có việc thụ lý của Tòa án có thẩm quyền sẽ không có sự xác định trách nhiệm của Tòa án và không có hàng loạt các hoạt động tố tụng tiếp theo. Thời điểm thụ lý vụ án là cơ sở xác định thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn và các hoạt động tố tụng khác. Bàn về thụ lý vụ án, có quan điểm nhận định rằng: Thụ lý vụ án dân sự (theo nghĩa rộng) cần được coi trọng vì đây là bước mở đầu của quá trình tố tụng dân sự, nếu thụ lý chậm, kéo dài thì gây phiền hà mất lòng tin của nhân dân, nhưng một vụ án thụ lý sai, không đúng thẩm quyền sẽ mất thời gian nên cần có quy định cụ thể về thời hạn để Tòa án xem xét và thông báo cho đương sự biết có thụ lý hay không để từ đó đề cao trách nhiệm của Tòa án và nhiệm vụ của đương sự [44, tr.
Đặc điểm của khởi kiện và thụ lý vụ án ly hôn: Một là, quyền khởi kiện vụ án ly hôn. Tự do hôn nhân bao gồm tự nguyện kết hôn và tự do ly hôn, do đó quyền yêu cầu ly hôn được pháp luật công nhận. Chỉ có vợ hay chồng hoặc cả vợ và chồng mới có quyền khởi kiện yêu cầu ly hôn tại Tòa án để yêu cầu chấm dứt hôn nhân, giải quyết tài sản chung và con chung. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp quyền ly hôn của người chồng bị hạn chế.
Hai là, cơ sở pháp lý làm phát sinh vụ án ly hôn tại Toà án là đơn khởi kiện của đương sự. Toà án phải căn cứ vào quy định của pháp luật HN&GĐ và pháp luật tố tụng để xem xét quyết định thụ lý vụ án (nếu đủ điều kiện thụ lý) hoặc trả lại đơn khởi kiện (nếu không đủ điều kiện). Ba là, thụ lý vụ án ly hôn là việc Toà án đã xác định trách nhiệm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Từ thời điểm này các hành vi tố tụng 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về thời hạn, thủ tục và xây dựng kế hoạch lập hồ sơ vụ án cho giai đoạn tiếp theo là chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn Bằng việc thụ lý, Tòa án đã chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết vụ án. Để giải quyết vụ án Thẩm phán tiến hành hàng loạt các công việc chuẩn bị cho việc xét xử sơ thẩm trong một thời hạn nhất định. Nếu tiếp cận chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn là hoạt động của Tòa án bao gồm toàn bộ những hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm xác minh, thu thập chứng cứ (trong các trường hợp pháp luật quy định), bước đầu đánh giá các chứng cứ và ra các phán quyết cần thiết để giải quyết vụ án. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn thể hiện các hoạt động tố tụng sau đây: - Xác định đầy đủ quan hệ pháp luật giữa các đương sự: Trong vụ án ly hôn, có rất nhiều những tình tiết khác nhau nhưng Toà án phải xác định đầy đủ và chính xác các quan hệ pháp luật phát sinh để làm cơ sở cho hoạt động thu thập chứng cứ, bước đầu đánh giá chứng cứ và lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng.
Trong vụ án ly hôn, thông thường Toà án xem xét ba quan hệ chủ yếu là quan hệ nhân thân (làm tiền đề cho xem xét quan hệ khác), chia tài sản chung và giải quyết việc nuôi con chung. Trong từng mối quan hệ cơ bản này Toà án phải xem xét thấu đáo các vấn đề (ví dụ như chia tài sản chung phải xác định tài sản chung, tài sản riêng, các khoản nợ chung hoặc nợ riêng,. Khi xác định, Toà án làm sáng tỏ đâu là quan hệ chính cần tập trung giải quyết, đâu là quan hệ có ý nghĩa bổ sung cho quan hệ chính để tránh tình trạng xác định tràn lan, không tập trung làm cho việc lập hồ sơ tản mạn, dẫn tới áp dụng pháp luật giải quyết thiếu chính xác. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Xác định đầy đủ các đương sự trong vụ án ly hôn: Pháp luật tố tụng dân sự quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Việc xác định đầy đủ các đương sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng đảm bảo cho họ thực hiện quyền hay nghĩa vụ tố tụng như đề đạt yêu cầu, cung cấp chứng cứ, tranh luận, quyền kháng cáo quyết định của Toà án. Nếu xác định không đầy đủ các đương sự, việc lập hồ sơ vụ án ly hôn thiếu chính xác, toàn diện, dẫn tới giải quyết ly hôn khinh xuất, không chính xác. Chẳng hạn, vợ chồng đưa ra chứng cứ ngôi nhà ở là tài sản chung nhưng cha mẹ lại có yêu cầu phải thanh toán khoản nợ cho vay khi xây nhà, những người khác cũng yêu cầu người chồng phải trả các khoản nợ khác. Trong quá trình xét xử vụ án ly hôn, không có quy định thông báo công khai để các chủ nợ biết nhưng đương sự lại cố tình giấu diếm nên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Nếu Toà án không xác minh kỹ lưỡng và đương sự cố tình giấu diếm sẽ dẫn đến bỏ sót các đương sự và hậu quả các phán quyết của cấp sơ thẩm có thể bị hủy hoặc bị sửa. - Xác định rõ những vấn đề cần phải chứng minh: Đối tượng chứng minh là toàn bộ hoạt động tố tụng của Toà án tập trung làm sáng tỏ. Trước hết, Toà án xác định những đối tượng cần chứng minh trong vụ án ly hôn trên cơ sở yêu cầu của các người khởi kiện và của các đương sự, ví dụ như: yêu cầu chấm dứt hôn nhân trước pháp luật do mâu thuẫn trầm trọng, yêu cầu chia tài sản chung,. Sau đó Toà án căn cứ vào các quy định của pháp luật HN&GĐ để xác định từng nội dung yêu cầu được pháp luật quy định.
Ví dụ như trong quan hệ tình cảm, người chồng đã ngoại tình nhiều lần và được gia đình tổ chức họp khuyên giải nhưng vẫn không sửa chữa; người chồng đánh đập người vợ,.