Chương 1. Cơ sở lý luận, vai trò của mạng Internet, Website trong phòng chống gian lận, đạo văn và chia sẻ thông tin khoa học Chương 2. Hiê ̣n tra ̣ng, các yếu tố nguy cơ dẫn tới lê ̣ch chuẩ n khoa ho ̣c tại Trường Đại học Y Thái Bình Chương 3. Giải pháp xây dựng Website nhằm khẳng định tính cộng đồ ng và ha ̣n chế hiê ̣n tươ ̣ng gian lâ ̣n, đa ̣o văn trong NCKH 7 z CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN, VAI TRÒ CỦ A MẠNG INTERNET , WEBSITE TRONG PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN, ĐẠO VĂN VÀ CHIA SẺ THÔNG TIN KHOA HỌC 1. Dẫn nhập: Có thể nói khoa học đã làm thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội về kiến thức, vật chất, văn hóa, tinh thần… của con người theo chiều hướng tích cực hơn. Hoạt động nghiên cứu khoa học là công việc đặc biệt, kết quả nghiên cứu khoa học yêu cầu sự trung thực, khách quan và phải được chia sẻ với cộng đồng khoa học nói riêng, với xã hội nói chung. Những sản phẩm này là kho tàng tri thức quý giá được sử dụng làm nền tảng cho kiến thức, được ứng dụng vào đời sống xã hội.
Khoa học có những chuẩ n mực nhấ t đinh ̣ mà tấ t cả các cộng đồng khoa học khác nhau trên khắp thế giới đều thừa nhận. Trong hoạt động nghiên cứu khoa học cũng có những trường lệ ch chuẩ n như gian lâ ̣n, đa ̣o văn hoă ̣c lê ̣ch chuẩ n nhâ ̣n thức do thiế u kiế n thức , thiế u thông tin những hiê ̣n tươ ̣ng đó it́ nhiề u làm mấ t lòng tin của xã hô ̣i. Hiê ̣n nay, mạng Internet, Website đươ ̣c sử du ̣ng rô ̣ng raĩ ở nước ta và nó mang la ̣i cho xã hô ̣i rấ t nhiề u thuận lơ ̣i đă ̣c biê ̣t là viê ̣c chia sẻ và tìm kiếm thông tin giúp cho viê ̣c xã hô ̣i hóa thông tin diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên để hiểu rõ hơn những khái niê ̣m của khoa học, sản phẩm của nghiên cứu k hoa ho ̣c, mạng Internet và mối liên quan giữa việc xã hội hóa thông tin với ma ̣ng Internet , Website.
Trong nghiên cứu này chúng ta sẽ tim ̀ hiể u và phân tić h rõ ràng hơn những vấ n đề trên. Mô ̣t số cơ sở lý luận về khoa ho ̣c, chuẩ n mƣ̣c khoa ho ̣c và lêch ̣ chuẩ n trong nghiên cƣ́u khoa ho ̣c. Khoa học là một thiết chế xã hội: Định nghĩa này được đưa ra dựa trên một ý tưởng của Price, một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ. Price cho rằng: “Khoa học có thể sẽ là một thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong xã hội hiện đại.
Thiết chế 8 z ấy đang làm biến đổi đời sống và số phận con người trên thế giới này hơn bất kỳ một sự kiện chính trị hoặc tôn giáo nào.” Trong giáo trình “phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của tác giả Vũ Cao Đàm, (Trang 17 - 18) đã phân tích rấ t rõ đinh ̣ nghiã trên và nhâ ̣n đinh ̣ “Nhìn nhận khoa học là một thiết chế xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với người nghiên cứu trong quá trình lựa chọn phương hướng nghiên cứu, đồng thời cũng có ý nghĩa quan trọng liên quan đến việc hoạch định chính sách, hỗ trợ những nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực cho sự phát triển xã hội.” Mă ̣c dù trong hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i thường ngày có rấ t nhiề u những ví du ̣ cụ thể chỉ rõ khoa học và công nghệ là một thiết chế xã hội. Tuy nhiên để hiể u rõ hơn chúng ta có thể phân tích mô ̣t s ố ví dụ mà trong thực tế hoạt động xã hô ̣i đang diễn ra hàng ngày mà chúng ta khi để ý sẽ dễ dàng nhâ ̣n thấ y. Trường hơ ̣p 1: Để ha ̣n ch ế những người th iế u ý thức khi ngủ trên ghế ta ̣i các trạm dừng xe (BUS) làm mất cảnh quan và chiếm dụng ghế ngồi của người khác. Người ta đã thiế t kế ra những kiể u ghế ngồ i đă ̣c biê ̣t mà không ai có thể nằm ngủ ở trên đó.
Trường hơ ̣p 2: Để giảm thiể u những vu ̣ tai na ̣n giao thông đáng tiế c thường xảy ra ta ̣i những cung đường nguy hiể m. Người ta đã thiế t kế ra gờ giảm tố c l àm cho người lái xe bắ t buộc phải giảm tốc độ khi đi qua những cung đường này. Trường hơ ̣p 3: Tại một số điểm có dịch vụ công cộng như nơi bán vé tàu xe , nơi đăng ký khám chữa bệnh… để hạn chế việc chen lấn khi xếp hàng mua vé tàu , xe hoă ̣c đăng ký khám chữa bê ̣nh. Người ta đã thiế t kế lố i ra, vào đă ̣c biê ̣t bắ t buô ̣c mo ̣i người phải đi theo thứ tự chứ không thể chen lấ n để giành đươ ̣c ưu tiên.
Trường hơ ̣p 4: 9 z Tại một số cơ quan , xí nghiệp để quản lý con người và thời gian lao đô ̣ng người ta đã thiế t kế ra hê ̣ thố ng máy móc ta ̣i khu vực cổ ng ra vào để kiể m soát thời gian của cán bô ̣ công nhân viên. Từ những ví du ̣ trên chúng ta đã có thể hiể u rõ hơn sự ảnh hưởng của khoa ho ̣c và công nghê ̣ tới hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i từ những viê ̣c đơn giả n nhấ t mà thường ngày do chúng ta không để ý nên chưa nhâ ̣n thấ y đươ ̣c sự ảnh hưởng của nó và rõ ràng những sự việc trên khi thực hi ện lâu dần sẽ trở thành th ói quen đố i với xã hô ̣i. Nói chính xác hơn , bố n ví du ̣ trên đây là các kiến tạo xã hội của KH&CN, nhưng chính các kiế n ta ̣o xã hô ̣i này đã t rở nên mô ̣t loa ̣i thiế t chế điề u chỉnh hành vi của con người trong xã hô ̣i. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học: - Tính mới: Vì nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá thế giới của những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới.
Trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện. - Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng. - Tính thông tin: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể đó là một báo cáo khoa học, một tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức sản xuất mới… Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin.
Đó là 10 z những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về một quá trình xã hội hoặc quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng cho quy trình đó. - Tính khách quan: Tính khách quan là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học. Trong xã hội khoa học (sociology of science) người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị. Một nhận định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật hiện tượng.
- Tính rủi ro: Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể gặp phải thất bại. Đó là tính rủi ro (risque) của nghiên cứu. Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn, thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy; trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp; năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế; giả thiết khoa học đặt ra là sai do những tác nhân bất khả kháng, vv… Ngay khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn gặp những rủi ro trong áp dụng. Hai trường hợp có thể xảy ra là.
- Tính kế thừa: Ngày nay không còn một công trình nghiên cứu khoa học nào bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về mặt kiến thức. Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa. - Tính cá nhân: Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.
(Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học tr 36 - 38) Xem xét tin ́ h mới , tính rủi ro và tính kế thừa của đặc điểm nghiên cứu khoa ho ̣c chú ng ta nhâ ̣n thấ y rằ ng vai trò của thông tin trong khoa ho ̣c là vô cùng cần thiết. Không có thông tin chúng ta sẽ không thể biế t đươ ̣c đồ ng nghiê ̣p đã nghiên cứu đươ ̣c những gì để từ đó có thể tim ̀ ra khoảng trố ng 11 z trong nghiên cứu và có thể kế thừa được những gì từ những đồ ng nghiê ̣p , cũng như tránh được những rủi ro trong nghiên cứu khi thiếu thông tin tham khảo. Một số sản phẩm đặc biệt của nghiên cứu khoa học: Một số sản phẩm đặc biệt của nghiên cứu khoa học, như phát hiện, phát minh, sáng chế là những khái niệm cần hiểu đúng trong giới nghiên cứu và trên các diễn đàn, bởi nó đụng chạm đến nhiều vấn đề về công nghệ, kinh tế, pháp lý. - Phát minh: Phát minh (tiếng Anh - discovery, tiếng Pháp - découverte) là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người.