CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VAI TRÒ CUA MẠNG INTERNET WEBSITE TRONG PHONG CHÓNG GIAN LAN, ĐẠO VĂN VA CHIA SE THONG TIN KHOA HOC 1. Dẫn nhập: Có thê nói khoa học đã làm thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội về kiến thức, vật chất, văn hóa, tinh thần. của con người theo chiều hướng tích cực hơn.
Hoạt động nghiên cứu khoa học là công việc đặc biệt, kết quả nghiên cứu khoa học yêu cầu sự trung thực, khách quan và phải được chia sẻ với cộng đồng khoa học nói riêng, với xã hội nói chung. Những sản phẩm này là kho tàng tri thức quý giá được sử dụng làm nên tảng cho kiến thức, được ứng dụng vào đời sống xã hội. Khoa học có những chuẩn mực nhất định mà tat cả các cộng đồng khoa học khác nhau trên khắp thế giới đều thừa nhận _. Trong hoạt động nghiên cứu khoa học cũng có những trường lệ ch chuẩn như gian lận, đạo văn hoặc lệch chuẩn nhận thức do thiế u kiến thức, thiếu thông tin những hiện tượng đó ít nhiều làm mất lòng tin của xã hội.
Hiện nay, mạng Internet, Website được sử dụng rộng rãi ở nước ta và nó mang lại cho xã hội rất nhiều thuận lợi đặc biệt là việc chia sẻ và tìm kiếm thông tin giúp cho việc xã hội hóa thông tin diễn ra nhanh chóng. Tuy nhiên đề hiểu rõ hơn những khái niệm của khoa học, sản phẩm của nghiên cứu k hoa học, mạng Internet và mối liên quan giữa việc xã hội hóa thông tin với mạng Internet , Website. Trong nghiên cứu này chúng ta sẽ tìm hiểu va phân tích rõ ràng hơn những van dé trên. Một số cơ sở lý luận về khoa học, chuẩn mực khoa học và lệch chuẩn trong nghiên cứu khoa học.
Khoa học là một thiết chế xã hội: Định nghĩa này được đưa ra dựa trên một ý tưởng của Price, một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ. Price cho rằng: “Khoa học có thể sẽ là một thiết chế xã hội có ÿ nghĩa nhất trong xã hội hiện đại. Thiết chế ấy dang làm biến đổi đời sống và số phận con người trên thé giới này hơn bắt kỳ một sự kiện chính trị hoặc tôn giáo nao.” Trong giáo trình “phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của tác giả Vũ Cao Đàm, (Trang 17 - 18) đã phân tích rất rõ định nghĩa trên và nhận định “Nhìn nhận khoa học là một thiết chế xã hội có ÿ nghĩa rất quan trọng đối với người nghiên cứu trong quá trình lựa chọn phương hướng nghiên cứu, đồng thời cũng có ý nghĩa quan trọng liên quan đến việc hoạch định chính sách, hỗ trợ những nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực cho sự phát triển xã hội.” Mặc dù trong hoạt động xã hội thường ngày có rất nhiều những ví dụ cụ thê chỉ rõ khoa học và công nghệ là một thiết chế xã hội. Tuy nhiên để hiểu rõ hơn chúng ta có thê phân tích một s 6 ví dụ mà trong thực tế hoạt động xã hội đang diễn ra hàng ngày mà chúng ta khi đề ý sẽ dễ dàng nhận thấy.
Trường hợp 1: Đề hạn ch é những người th iéu ý thức khi ngủ trên ghế tại các trạm dừng xe (BUS) làm mat cảnh quan và chiếm dụng ghế ngồi của người khác Người ta đã thiết kế ra những kiểu ghế ngôi đặc biệt mà không ai có thé nằm ngủ ở trên đó. Trường hợp 2: Đề giảm thiêu những vụ tai nạn giao thông đáng tiếc thường xảy ra tại những cung đường nguy hiểm. Người ta đã thiết kế ra go giảm téc 1 am cho người lái xe bắt buộc phải giảm tốc độ khi đi qua những cung đường này. Trường hợp 3: Tại một số điểm có dịch vụ công cộng như noi bán vé tàu xe , nơi đăng ký khám chữa bệnh.
dé hạn chế việc chen lan khi xếp hàng mua vé tàu _, xe hoặc đăng ký khám chữa bệnh. Người ta đã thiết kế lối ra, vào đặc biệt bat buộc mọi người phải đi theo thứ tự chứ không thé chen ln dé giành được ưu tiên. Trường hợp 4: Tại một số cơ quan , xí nghiệp dé quản lý con người và thời gian lao động người ta đã thiết kế ra hệ thố ng máy móc tại khu vực công ra vào dé kiểm soát thời gian của cán bộ công nhân viên. Từ những ví dụ trên chúng ta đã có thê hiểu rõ hơn sự ảnh hưởng của khoa hoc và công nghệ tới hoạt động xã hội từ những việc đơn giả n nhất ma thường ngày do chúng ta không dé ý nên chưa nhận thấy được sự ảnh hưởng của nó và rõ ràng những sự việc trên khi thực hi én lâu dan sẽ trở thành th ói quen đối với xã hội.
Nói chính xác hon , bốn ví dụ trên đây là các kiến tạo xã hội của KH&CN, nhưng chính các kiến tạo xã hội này dat rở nên một loại thiết chế điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học: - Tính mới: Vì nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá thế giới của những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới. Trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện. - Tính tin cậy: Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nao đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau.
Một kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thé xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng. - Tinh thông tin: Sản phâm của nghiên cứu khoa học được thé hiện dưới nhiều dạng, có thể đó là một báo cáo khoa học, một tác pham khoa hoc, song cũng có thé là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản pham mới, mô hình thí điểm về một phương thức tô chức sản xuất mới. Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin. Đó là 10 những thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về một quá trình xã hội hoặc quy trình công nghệ và các tham số đặc trưng cho quy trình đó.
- Tính khách quan: Tính khách quan là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học. Trong xã hội khoa học (sociology of science) người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị. Một nhận định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật hiện tượng. - Tính rủi ro: Quá trình khám phá bản chất sự vật và sang tao sự vật mới hoàn toàn có thé gặp phải thất bại.
Đó là tính rủi ro (risque) của nghiên cứu. Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân, chăng hạn, thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy; trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp; năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế; giả thiết khoa học đặt ra là sai do những tác nhân bat khả kháng, vv. Ngay khi kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thành công cũng vẫn gặp những rủi ro trong áp dụng. Hai trường hợp có thể xảy ra là.
- Tính kế thừa: Ngày nay không còn một công trình nghiên cứu khoa học nào bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về mặt kiến thức. Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa. - Tính cá nhân: Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thé thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá nhân được thể hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.
(Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học tr 36 - 38) Xem xét tính mới, tính rủi ro và tính kế thừa của đặc điểm nghiên cứu khoa học chúng ta nhận thấy răng vai trò của thông tin trong khoa học là vô cùng cần thiết. Không có thông tin chúng ta sẽ không thể biết được đồng nghiệp đã nghiên cứu được những gi dé từ đó có thé tìm ra khoảng trống 11 trong nghiên cứu và có thể kế thừa được những gì từ những đồng nghiệp , cũng như tránh được những rủi ro trong nghiên cứu khi thiếu thông tin tham khảo. Một số sản phẩm đặc biệt của nghiên cứu khoa học: Một số sản phẩm đặc biệt của nghiên cứu khoa học, như phát hiện, phát minh, sáng chế là những khái niệm cần hiểu đúng trong giới nghiên cứu và trên các diễn đàn, bởi nó đụng chạm đến nhiều vấn đề về công nghệ, kinh tẾ, pháp lý. - Phát minh: Phát minh (tiếng Anh - discovery, tiếng Pháp - découverte) là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đối cơ bản nhận thức của con người.
- Phát hiện: Phát hiện (tiếng Anh cũng là discovery, tiếng Pháp - découverte) là sự khám phá ra những vật thé, những quy luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan. - Sáng chế: Sáng chế (tiếng Anh, tiếng Pháp đều là invention) là một giải pháp kỹ thuật mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng tạo và áp dụng được. Hoạt động khoa học và công nghệ: Hoạt động khoa học và công nghệ (Science and Technology Activities) là thuật ngữ được sử dụng trong các văn kiện chính sách Khoa học và Công nghệ (KH&CN) của UNESCO từ thập niên 1970. Hoạt động KH&CN có thê bao gồm các nội dung sau: - Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D).
Trong nền kinh tế thi trường, loại hoạt động này được thực hiện trước hết trong các trường đại học, trong các doanh nghiệp và cũng có cả các viện nghiên cứu độc lập; - Hoạt động phát triển công nghệ, bao gồm mở rộng công nghệ, nâng cấp công nghệ và đổi mới công nghệ: - Hoạt động dịch vụ KH&CN 12 Xã hội càng phát triển thì hoạt động khoa học và công nghệ càng phát triển đa dang và phong phú.