CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CHO SINH VIÊN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn hóa và chính trị 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống và quan hệ xã hội của con người.
Cho tới hiện nay, thực tế đã có khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hóa. Như vậy, văn hóa là một khái niệm rất rộng và để xác định được định nghĩa văn hóa một cách cụ thể thì không hề đơn giản. Bởi vì mỗi tác giả, mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những quan điểm riêng của mình về định nghĩa văn hóa dựa trên vấn đề mà họ đã nghiên cứu. Quan niệm văn hóa theo UNESCO Theo UNESCO, cho đến nay đã có trên 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Lúc đầu, xuất phát từ chữ Latinh, văn hóa (culture) được hiểu là khai hoang, trồng trọt và chăm sóc cây lương thực. Sau đó, nó được hiểu với nghĩa bóng là sự chăm nom, giáo dục, đào tạo khả năng con người về mọi mặt. Như vậy, từ rất sớm, phạm trù văn hóa được dùng để phản ánh về con người trong sự phát triển của nó. Cũng từ đó, văn hóa được hiểu trên các cấp độ rộng – hẹp khác nhau.
Năm 1994, theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm, khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng. Còn theo nghĩa hẹp, “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[10]. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa rằng: “Văn hóa nên được đề cập như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã 7 hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”[29].
Năm 2001, trong Tuyên bố Toàn cầu về Đa dạng Văn hoá của UNESCO, trong đó chỉ rõ “Văn hoá được coi là hệ thống các đặc điểm về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của xã hội hay một nhóm người trong xã hội và văn hóa bao gồm nghệ thuật, văn học, phong cách sống, cách thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”[45]. Tổng giám đốc UNESCO (giai đoạn 1987 – 1999), ông Federico Mayor lại định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”[6]. Quan niệm văn hóa của phương đông Tại phương đông, Trung Quốc chính là cội nguồn của văn hóa mang ý nghĩa là một phương thức giáo hóa con người, văn trị giáo hóa trong đó “văn” là vẻ bề ngoài, “hóa” là dạy dỗ sửa đổi.
Thuật ngữ “Văn hóa” được sử dụng sớm khoảng thế kỷ VI đến thế kỷ V trước Công nguyên. Tiếng Hán, “Văn hóa” có nghĩa gốc là giáo dục, cảm hóa bằng điểm chung, lễ nhạc. Cùng với sự phát triển của lịch sử, ngày nay, văn hóa được dùng để chỉ các hiện tượng xã hội thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, bao gồm các hình thái xã hội (triết học, sử học, văn hóa nghệ thuật,.); các hình thức văn hóa hữu quan (văn tự, xuất bản, thư tịch – những công cụ truyền bá văn hóa) cũng như các chế độ điển chương có quan hệ khăng khít với sự phát triển văn hóa (giáo dục, thi cử, quan chế, pháp luật,. Khổng Tử (551 TCN – 479 TCN, nước Lỗ) – người đã tìm ra được các tư liệu sau đó biên soạn lại được Ngũ Kinh.
Thuộc một trong năm bộ kinh đó có “Kinh dịch” được Khổng Tử khẳng định: “Văn hóa là sự biến đổi cái chưa tao nhã thành tao nhã, cái chưa đẹp thành cái tốt đẹp,.nhờ giáo hóa đạo đức, lễ nhạc”[28]. Văn hóa được hiểu là toàn bộ sản phẩm có giá trị xã hội do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển xã hội loài người bao gồm quá trình sản xuất vật chất và 8 hoạt động sản xuất tinh thần. Nhưng bên cạnh đó, nó cũng được hiểu là thiên nhiên thứ hai, ở đó mỗi người được sinh ra và lớn lên. Môi trường văn hóa tác động trực tiếp tới sự hình thành nhân cách, sự phát huy mọi năng lực sáng tạo, khả năng truyền đạt thông tin giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên.
Quan niệm về văn hóa theo phương tây Tại phương tây, tương ứng với từ “Văn hóa” là từ “Cultura” theo tiếng Latinh, bắt nguồn từ colere, có nghĩa là trồng trọt. Là thuật ngữ thường được dùng để chỉ các hình thái hoạt động của con người và các cấu trúc biểu tượng mang lại ý nghĩa và tầm quan trọng cho các hoạt động đó. “Cultura” dần dần chuyển nghĩa, mang thêm những nội dung mới tiêu biểu như nói về tính học vấn, tính giáo dục, sự mở mang trí tuệ hay là tinh thần con người. Như vậy, nguồn gốc văn hóa có liên quan đến lao động, hoạt động tích cực cải tạo con người, tức là sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người.
Với hai lớp nghĩa cơ bản này, từ vựng “Văn hóa” được mở rộng thêm và đi sâu vào hầu hết các ngôn ngữ Châu Âu (ví dụ như tiếng Anh là Culture, tiếng Pháp là Culture, tiếng Đức là Kultur. Từ thời cổ đại, ông Marcus Tullius Cicero – triết gia, nhà lý luận chính trị La Mã (106 – 03 TCN) đã định nghĩa: “Văn hóa là sự trồng trọt về tinh thần. Nó nhổ bỏ, trừ tận gốc những thói xấu, làm cho tâm hồn con người sẵn sàng tiếp nhận những hạt giống; những gì được gieo cấy vào tâm hồn con người một khi phát triển lên sẽ cho một mùa thu hoạch vào loại dồi dào nhất”[43]. Một định nghĩa mang tính lịch sử nhấn mạnh về các quá trình kế thừa thuộc một trong những định nghĩa của Edward Sapir – nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ rằng: “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất, sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống kết hợp bởi phong tục tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”[39].
Năm 1871, một trong những người đầu tiên đưa ra định nghĩa khá chuẩn mực về văn hóa đó chính là nhà nhân học xã hội người Anh Edward Bernett Tylor: “Văn hóa là một tổng thể phức hợp bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người nhận được 9 với tư cách một thành viên xã hội”[38]. Điểm cần lưu ý trong định nghĩa về văn hóa của Tylor là hầu như ông chỉ đề cập tới mặt tinh thần, chứ chưa đề cập khía cạnh vật chất của văn hóa. Còn Ralph Linton (1893–1953), một nhà nhân loại học người Mỹ đã đưa ra các định nghĩa: “Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội. Hay ông cho rằng văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa”[31].
Với quan điểm của chủ nghĩa Mác – xít, văn hóa gắn liền với sự sáng tạo và năng lượng của con người cùng sức sáng tạo từ lao động. Trong “Bản thảo kinh tế - triết học 1844”, C.Mác cho rằng: “Hoạt động sinh sống có ý thức của con người là cái riêng có ở con người, phân biệt con người với con vật, đời sống con người với đời sống con vật. Hoạt động đó diễn ra đồng thời với sự hình thành các mối quan hệ tất yếu giữa con người với giới tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người trong xã hội”[35]. Có thể hiểu, văn hóa luôn gắn liền với sự tồn tại của loài người, với bản chất sinh học – xã hội của con người.
Trong cơ thể con người không chỉ có những nhu cầu và các quy luật sinh học, mà còn có những nhu cầu tâm – sinh lý, tình cảm, xã hội,. Những nhu cầu tự nhiên đó của con người không đơn giản mang tính chất tự nhiên nữa mà nó dần mang tính xã hội cao và trở thành văn hóa. Có nhu cầu thì sẽ có hoạt động, con người hoạt động không chỉ để thỏa mãn cho cá nhân mà còn vì nhu cầu của đồng loại, còn hướng tới những cái đẹp, đến các giá trị chân – thiện – mỹ. Hay theo như cách nói của C.Mác là: “Nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp”[36].Mác và Ăngghen còn nói rằng: “Bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội không những một đời sống hoàn toàn đầy đủ về vật chất.mà còn đảm bảo cho họ phát triển và vận dụng một cách hoàn toàn tự do và đầy đủ những năng khiếu thể lực và trí lực của họ nữa”[37].
Nói cách khác, xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công sẽ là thời điểm chế độ người bóc lột người hoàn toàn được xóa bỏ. Khi đó, người công nhân mới thật sự trở thành chủ thể tự do trong quá trình sáng tạo ra đời sống văn hóa của bản thân họ.Ăngghen không chính thức đưa ra định nghĩa về văn hóa. Nhưng qua tư tưởng, suy nghĩ mà các ông đã biểu đạt có thể hiểu được trong quan niệm của các nhà triết gia này, văn hóa chính là hoạt động sinh sống có ý thức của con người theo quy luật của cái đẹp. Như vậy, ở phương tây ngày nay, văn hóa có hai nghĩa là hoạt động nghệ thuật khoa học thường thức đời sống, sáng tạo nhưng gắn với từ nguyên chăn dắt, nuôi trồng,.Ý nghĩa thứ hai của từ văn hóa biểu đạt lối sống nhất định, lối sống đặc trưng có những con người nổi bật thực hành nhờ vào tính nhân văn, sự giáo dục, thị hiếu, kiến thức và những mỹ cảm.
Đó là trình độ văn hóa hay học thực, đồng thời cũng được dành cho các nghệ thuật.