Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Sơ lược quá trình nghiên cứu về tự học 1.1 Một vài nghiên cứu về tự học trên thế giới. Thuật ngữ năng lực được ra đời cùng với xu hướng giáo dục – đào tạo theo năng lực tại Mỹ vào thập niên 1970. Năng lực tự học tiếp tục được nghiên cứu, mô tả cùng với sự ra đời Các mô hình năng lực (Khung năng lực) từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX như: Ở Anh và xứ Wales có “Khung năng lực Hệ thống chất lượng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp (NVQs)”; New Zealand ban hành “Khung năng lực chất lượng về đào tạo nghề nghiệp (NQFs)”; Hội đồng thư kí Mỹ ban hành “Những kỹ năng cần thiết phải đạt được (SCANS) và Những tiêu chuẩn kĩ năng quốc gia (NSS)”, các mô năng lực này được coi là các mô hình năng lực kinh điển. Năng lực tự học được đề cập đến như một nguồn lực cần phải có ở mỗi HS.
Trong quá trình đào tạo, phải dạy cho HS thành thạo việc xác định, tổ chức, lên kế hoạch, phân bổ thời gian và tiền bạc.Cùng với đó, năng lực tự học còn được đánh giá thông qua các kĩ năng tư duy như: nhìn thấy trước vấn đề, biết cách học. Các nghiên cứu về năng lực tự học của Rudolf Tippelt (2003) ở Trường Đại học Lugwig Maximilian, Munich (Đức) trong tác phẩm “Competency - based training”, đã nghiên cứu sự thay đổi quan trọng trong lĩnh vực đào tạo hướng nghiệp thích ứng với nhu cầu của thị trường lao động và hệ thống việc làm đang diễn ra những năm gần đây. Tác giả chỉ rõ phải tạo thành cho HS năng lực tự học trước khi rời trường học để họ có thể học tập suốt đời, đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của xã hội. 6 Nghiên cứu của Theodore C.
Smith, cho thấy muốn học từ xa thành công thì phải hình thành được các năng lực tự học, tự nghiên cứu. Tác giả đưa ra đến một số năng lực được cho là có tầm quan trọng hàng đầu của trước, trong và sau khóa học dành cho dạy và học từ xa. Các chương trình đó lấy người học làm trung tâm và giảng viên thực sự có năng lực dạy, là hai chìa khóa quan trọng dẫn đến thành công trong việc giáo dục ở đại học. Trong các năng lực có đề cập đến năng lực đáp ứng việc học suốt đời, sinh viên phải hình thành và sử dụng chính xác kĩ thuật thích hợp trên cơ sở xác định điểm mạnh của bản thân và sử dụng công nghệ thông tin trong học tập.
Các nghiên cứu về việc tối ưu hóa năng lực người học, năng lực đáp ứng với yêu cầu đào tạo và nghề nghiệp đã có từ lâu. Các nghiên cứu về năng lực tự học chỉ là một phần nhỏ trong các bộ tiêu chuẩn năng lực, trong các yêu cầu tiêu chuẩn nghề nghiệp của xã hội đối với sinh viên. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, cùng với sự phát triển rất mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và ứng dụng rất nhanh các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào đời sống nói chung và giáo dục nói riêng, các quan điểm tự học cũng bị chi phối. Công nghệ dạy học ra đời đã làm thay đổi mạnh mẽ vai trò của người thầy.
Người dạy từ việc truyền đạt kiến thức, chuyển sang đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn cho HS cách học đạt hiệu quả. Nghiên cứu giáo dục về tự học theo hai hướng chính: Một là, cần thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy và học khi sử dụng công nghệ vào dạy học vào quá trình đào tạo. Theo hướng này, người giáo viên từ vị trí là chuyên gia dạy sẽ chuyển sang là chuyên gia, cố vấn về việc học cho người học. Thứ hai, các nghiên cứu cách thức phân hóa trong dạy học, tiến trình dạy được tiến hành theo nhịp độ phát triển theo cá nhân, từ đó nhằm đạt tới hiệu quả học tập tốt nhất.
Các nghiên cứu tiêu biểu cho trường phái này gồm: G.Sharma và Shakti R.Rettxke, 1987; Raja Roy Singh. 7 Trong khoảng 10 năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu về tự học và năng lực tự học đang tập trung nghiên cứu về các thành tố của năng lực tự học tiêu biểu như của: Anthony, 1994; Boekaerts, 1997; Carr, 1996; Malone & Smith, 1996; Schunk và Zimmerman, 1996; Schwartz và Bransford, 1998; Birenbaum, 2002; Weiss, 2004; Taggart (2005); Bullock & Muschamp, 2006; Bishop, 2006. Các học giả này chỉ ra rằng năng lực tự học quyết định bởi ba yếu tố bên trong gồm: (1) Một số kỹ năng nhận thức cơ bản, như trí nhớ, sự chú ý, giải quyết vấn đề và sáng tạo; (2) Về các kỹ năng siêu nhận thức cần thiết cho việc học độc lập; (3) Các kỹ năng tình cảm. Trong đó quan trọng nhất là kỹ năng tình cảm, thường được coi là động lực đối với việc học độc lập.
Các thành tố này sẽ được làm rõ ở trong mục tiếp theo của luận văn. Gần đây nhất, tại đại học York, Hoa Kỳ công bố công trình nghiên cứu về năng lực tự học của sinh viên, ảnh hưởng của năng lực tự học tới khả năng học tập của sinh viên của Mutlu Cukurova, 2014 nghiên cứu.2 Một số nghiên cứu về tự học ở Việt Nam. Các nghiên cứu về năng lực tự học ở Việt Nam chỉ mới được tiến hành trong khoảng 10 năm trở lại đây như: Trong trường ĐHSP Hà Nội, một số nghiên cứu của Vũ Thị Sơn về “Xác định chuẩn nghề nghiệp đối với sinh viên tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội”; nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Dung về “Xác định những yêu cầu sư phạm đối với sinh viên tốt nghiệp nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông hiện nay” đã chỉ ra rằng năng lực tự học là một phần của năng lực sư phạm. Cũng nghiên cứu về vấn đề đó, các tác giả Phan Thị Hồng Vinh và Nguyễn Đức Giang (2012) đưa ra 7 tiêu chuẩn với 37 tiêu chí đánh giá năng lực tự học của sinh viên.
Đồng thời hai tác giả phát triển quy trình tổ chức tự học gồm hai bước nhằm phát triển tự học cho sinh viên sư phạm.[10] 8 Nhìn chung, các nhà giáo dục học đã nghiên cứu vấn đề năng lực tự học dưới nhiều góc độ khác nhau với hệ thống lý luận tương đối chặt chẽ. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã đưa ra được: khái niệm về năng lực tự học, cách thức phát triển năng lực tự học và các tiêu chí đánh giá năng lực tự học. Hiện nay một số nhà nghiên cứu về phát triển năng lực tự học tập trung chủ yếu vào những đề sau: 1) Một số nghiên cứu về năng lực tự học của học. Theo hướng nghiên cứu này có các tác giả nghiên cứu như: Trần Phúc Trình (1974), Dạy suy nghĩ, dạy bộ óc qua môn Toán; Phạm Trọng Luận (1998), “Dạy cho sinh viên tự học và học sáng tạo"”; Nguyễn Kỳ (1999), " Dạy và phát huy tối đa nội lực trong giáo dục".
Các tác giả này đã đi sâu bàn về tự học, cách phát triển năng lực tự học, các yếu tố ảnh hưởng và cách khắc phục trong tự học. Trong tác phẩm “Dạy và học đại học” của các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn và Lê Khánh Bằng 2002 dành phần lớn nội dung bàn về phương pháp tự học và công tác tổ chức tự học của sinh viên nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao trong cuộc cách mạng xã hội và khoa học công nghệ ở trình độ đại học. Các tác giả đưa ra nhiều quan niệm về tổ chức tự học, cách thức tổ chức dạy học và tổ chức tự học chọ sinh viên. Trong đó các tác giả cũng đề cập đến vận dụng công nghệ thông tin vào quá trình tổ chức tự học.[6] 2) Quá trình bồi dưỡng, phát triển năng lực tự học cho HS.
Nghiên cứu theo hướng này có thể kể đến như tác giả Đặng Thành Hưng, cho rằng giáo dục hình thành năng lực tự học cho HS là một nhiệm vụ khó khăn, lâu dài. Giáo dục năng lực tự học bằng việc dạy và học phải kiên trì và lưu ý đến những vấn đề: dạy học sinh muốn học, dạy cách học,…Hình thành 9 cho HS những kĩ năng học tập như: kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng quản lí học tập. Tác giả Phạm Đình Khương đã nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực học Toán của học sinh trung học phổ thông"”đã đề cập tới các nhân tố tác động đến sự hình thành năng lực tự học bao gồm: ý thức, động cơ, vốn tri thức, phương pháp học tập cá nhân, năng lực trí tuệ, thói quen học tập và cách dạy trong nhà trường. Đổi mới phương pháp dạy học 1.
Đổi mới phương pháp dạy học là một nhu cầu cấp thiết. Đổi mới phương pháp dạy học là một nhu cầu cấp thiết bởi vì thế giới đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Công nghệ trong cuộc sống ngày càng hiện đại và thay đổi nhanh chóng, các nghành nghề và yêu cầu công việc cũng đang thay đổi. Do đó học sinh cần được đào tạo với kĩ năng mới để có thể đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong tương lai.
Ngoài ra, học sinh hiện nay có một cách tiếp cận mới với kiến thức, thông qua internet và các nền tảng trực tuyến. Họ có thể học được nhiều kiến thức mà trước đây chỉ có thể học được bằng cách trên lớp học. Vì vậy, phương pháp dạy học cũ đang có nhiều hạn chế. Trong thực tế xã hội: khi hệ thống tri thức thay đổi thì sớm hoặc muộn, chắc chắn năng lực tư duy và hoạt động của con người cũng phải thay đổi theo.
Hiện thực xã hội luôn đặt ra những vấn đề mới, buộc con người phải suy nghĩ, tìm kiếm giải đáp cùng những phương tiện để giải quyết vấn đề. Quá trình phát triển của xã hội luôn đi liền với những tri thức mới bổ sung và bồi đắp cho hệ thống tri thức đã có, để làm thay đổi nhận thức về thế giới quan. Trên cơ sở đó các phương thức hoạt động của con người và cộng đồng cũng thay đổi. Điều đó cũng có nghĩa rằng, những tri thức mới đã làm thay đổi tư duy của con 10 người” (Lương Đình Hải - Triết học trong kỷ nguyên toàn cầu - NXB Khoa học xã hội, 2009).
Thêm vào đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp dạy học truyền thống chưa thực sự đem lại hiệu quả cao cho học sinh. Phương pháp này tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà không đánh giá năng lực và khả năng tự học của học sinh.