Chương 1: Tổng quan về đề tài - Đưa ra các vấn đề, hiện trang và lý do chọn đề tài. - Phân tích được các hình thức mua hàng online mang lại những hiệu quả tốt cho người dùng. - Cấu trúc của báo cáo project. Chương 2: Tìm hiểu công nghệ - Đưa ra các công nghệ chính được sử dụng trong project cũng như phân tích các ưu điểm, nhược điểm của công nghệ đó.
Chương 3: Phân tích và thiết kế hệ thống - Nội dung của chương này tập chung vào việc phân tích, đánh giá để đưa ra luồng hoạt động của hệ thống thông qua chức năng của các biểu đồ use case, activity diagram, sequence diagram. - Thiết kế database sử dụng cho phát triển hệ thống. Chương 4: Xây dựng và cài đặt hệ thống - Chương này nói về công cụ phát triển sản phẩm, các chức năng chính mà hệ thống đã xây dựng được và chạy thử nghiệm trên môi trường thực tế. Chương 5: Kết luận - Phân tích các kết quả đạt được và chưa đạt được sau khi nghiên cứu và phát triển hệ thống, định hướng phát triển.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỀ TÀI 2.1 Tổng quan về website 2.1 Khái niệm về website “Website” là một tập hợp các trang thông tin có chứa nội dung dạng văn bản, chữ số, âm thanh, hình ảnh, video…được lưu trữ trên máy chủ web server và có thể truy cập được từ xa. Trang web (web page) là khái niệm dùng để chỉ một trang cụ thể nào đó của website, đây là một tài liệu được hiển thị trực tiếp trên trình duyệt như Firefox, Google Chrome. một website sẽ có nhiều trang web con.2 Lịch sử ra đời của website Website được chuyên gia phần mềm người Anh Tim Berners-Lee khởi chạy thành công vào ngày 21/12/1990 tại cơ sở của CERN nằm ở dãy núi Alps Thụy Sĩ.1 Hình ảnh cha đẻ của website Website đầu tiên được Tim Berners-Lee chạy với tên miền là: info.ch chạy trên một máy chủ NeXT của CERN, hiện nay website này vẫn đang còn tồn tại và hoạt động. Nội dung của trang web cung cấp các thông tin về world wide web, nền tảng cơ bản của Internet, nơi các văn bản và các trang tên Internet có thể truy cập được thông qua các URL (Uniform Resource Locator) và kết nối với nhau thông qua các siêu liên kết.
12 Đến năm 1993 khi trình duyệt Mosaic dành cho nền tảng Unix và Windows ra đời thì website mới trở nên phát triển mạnh mẽ và phổ biến hơn. Năm 1994 Berners-Lee thành lập tổ chức World Wide Web (W3C) tại học viện công nghệ MIT của Mỹ, W3C sẽ chịu trách nhiệm để tạo ra những tiêu chuẩn cho các trang web, đảm bảo rằng các trang web hoạt động theo cùng tiêu chuẩn đó.3 Cách thức hoạt động của website Một website gồm nhiều web page như chúng ta đã đề cập ở trên, đó là các tập tin html hoặc xhtml được lưu trữ tại máy chủ web server, thông tin trên đó có nhiều dạng như văn bản, âm thanh, hình ảnh, video… Các máy tính ở những nơi khác nhau sử dụng trình duyệt để gửi thông tin request lên cho máy chủ thông qua đường truyền Internet, máy chủ web server sẽ trả về thông tin cho máy khách phía người dùngvà hiển thị lên trình duyệt. Các thông tin máy chủ webserver trả về được hiển thị lại đúng với các yêu cầu request của người dùng gửi lên. Giao thức hoạt động chính của website là HTTP dùng để gửi và nhận gói tin giữa máy chủ webserver và máy khách client.
Để website hoạt động được trên môi trường Internet thì cần phải có các thành phần chính: Source code (Mã nguồn): phần này thường do các lập trình viên thiết kế và triển khai, source code sẽ là nơi quy định cách thức hoạt động cũng như vận hành của website. Web hosting (Lưu trữ web): nơi dùng để lưu trữ Source code, để website có thể chạy được trên môi trường thực tế. Domain (Tên miền): địa chỉ của website để các máy tính ở các nơi khác truy cập vào. Là tên mà mọi người gõ trên trình duyệt, do tên miền đã được trỏ về địa chỉ webserver nên trình duyệt sẽ gửi yêu cầu lên webserver.
Nếu không có tên miền thì chúng ta phải nhớ chính xác địa chỉ của webserver thì mới truy cập được. Nói cách khác tên miền giống như địa chỉ ngôi nhà, dựa vào địa chỉ có thể tìm thấy được ngôi nhà của bạn. Để có thể truy cập vào một website thì chắc chắn phải cần đến đường truyền Internet, Internet giúp ta gửi và nhận thông tin giữa máy tính và webserver, là cầu nối để tìm kiếm thông tin và hoạt động trên môi trường Internet. Phân loại website: được chia thành 2 loại Website tĩnh (Static web) 13 Website động (Dynamic web) Website tĩnh là website sử dụng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML cùng với CSS và JavaScript để hiển thị thông tin.
Sau khi tải các thông tin cần thiết từ webserver về, trình duyệt sẽ biên dịch mã và hiển thị nội dung trang web, người dung hầu như không thể tương tác được với trang web chỉ có thể hiển thị các thông tin cố định. Website tĩnh thường không có sự tương tác với người dung nên thường được sử dụng để làm website giới thiệu công ty, giới thiệu sản phẩm… Ưu điểm của website tĩnh Tốc độ truy cập nhanh. Giá thành sản phẩm rẻ hơn, chi phí đầu tư thấp, Không cần người có kinh nghiệm quản trị, nội dung ít bị thay đổi Nhược điểm: Khó quản lí, nâng cấp, bảo trì. Website động là website ngoài sử dụng HTML, CSS, JavaScript thì còn sử dụng thêm một ngôn ngữ lập trình phía back-end như Java, PHP, ASP.
và hệ quản trị cơ sở dữ liệu như MySQL, SQL Server, MongoDB. Nội dung website có thể thay đổi dễ dàng, có tính tương tác với người dùng. Ưu điểm của website động: Có tính tương tác với người dùng. Có trang quản lí, dễ dàng thay đổi thông tin, quản trị nội dung.
Có thể xây dựng được hệ thống website lớn. Dễ dàng nâng cấp, bảo trì. Nhược điểm: Chi phí xây dựng website cao, cần những người có chuyên môn cao. Website động thích hợp làm cho các hệ thống quản lí bán hàng, quản lí dịch vụ, website học tập, tin tức.2 Tìm hiểu về HTML, CSS, JS 2.1 HTML (HyperText Markup Language) Là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản được phát hành vào năm 1999, dùng để định dạng bố cục của trang web, các thuộc tính liên quan đến cách hiển thị của một đoạn text và được hiển thị trên browser, browser sẽ biên dịch HTML và hiển thị lên cho người dùng.
HTML là một định dạng đặc biệt của XML nên có cú pháp:<tagname> </tagname>. Bố cục của một website gồm rất nhiểu thẻ khác nhau, mỗi thẻ có một nhiệm vụ nhất định của nó. Các thẻ chính như: <p>, <h1>, <img>. HTML đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng website, xây dựng cấu trúc siêu văn bản trên một website, hoặc khai báo các tập tin kĩ thuật số, hình ảnh, video, âm thanh.
HTML là một tập tin siêu văn bản nên ta có thể dùng các chương trình soạn thảo văn bản như NotePad, trình editor Visual Studio Code, SublimeText. để lập trình và phát triển. Các phiên bản HTML: HTML5 được phát hành mới nhất vào năm 2014, so với HTML thì HTML5 hỗ trợ thêm các tính năng quan trọng như: khả năng hỗ trợ video và audio, lập trình viên có thể nhúng trực tiếp file video/audio vào trang web thông qua các cặp thẻ <audio> và <video>. HTML5 hỗ trợ thêm nhiều thẻ định dạng khác nhau như <section>, <article>.
các định dạng như: email, url, ngày/giờ. Ưu điểm của HTML: Có nhiều tài nguyên hỗ trợ và cộng đồng lập trình lớn. Có thể hoạt động trên tất cả các trình duyệt hiện nay. Các markup sử dụng trong HTML thường ngắn gọn, có độ đồng nhất cao.
Đây là mã nguồn mở, hoàn toàn miễn phí, là chuẩn web được quy định bởi W3C. Dễ dàng tích hợp được với các loại ngôn ngữ back-end như Java, PHP, Node. Nhược điểm của HTML: Khó kiểm soát cách đọc và hiển thị file của các trình duyệt cũ, không render được các tagname mới Một vài trình duyệt chậm cập nhật hỗ trợ các tính năng mới của HTML5 15 2.2 CSS (Cascading Style Sheet Language) CSS dùng để định dạng lại phần tử của trang web được tạo ra bởi HTML. Phương thức hoạt động của CSS là nó sẽ tìm dựa vào các vùng chọn có thể là tên một thẻ HTML, tên một ID, class, sau đó sẽ áp dụng các thuộc tính cần thay đổi lên vùng chọn đó.
Cấu trúc cơ bản của một thành phần CSS Hình 2.2 Cấu trúc của một thành phần CSS Selector: là thành phần nhận biết thẻ HTML để định dạng Property: là các thuộc tính của thẻ HTML Value: là giá trị của thuộc tính, quyết định thay đổi định dạng thẻ như thế nào. Cách nhúng CSS vào website: Inline Styles: Nhúng trực tiếp vào tài liệu HTML thông qua cặp thẻ <style></style> External Styles: Tạo một tập tin .css riêng biệt và nhúng vào tài liệu HTML thông qua thẻ <link> Với việc áp dụng CSS trong thiết kế giao diện website giúp chúng ta có thể định dạng các phần tử giống theo ý muốn của mình từ đó tạo ra các trang web sinh động, phong phú hơn. CSS là một thành phần không thể thiếu được đối với mỗi website, làm cho trang web đẹp hơn, phù hợp với yêu cầu khách hàng.3 Bootstrap Là sản phẩm của Mark Otto và Jacob Thornton tại Twitter, được xuất bản như một mã nguồn mở vào ngày 19/8/2011 trên GitHub. 16 Bootstrap là một framework bao gồm các thẻ HTML, CSS và Javascript template dùng để phát triển website chuẩn responsive (phù hợp với nhiều kích thước màn hình).
Người dùng có thể dễ dàng thiết kế website theo một chuẩn nhất định đã được đề ra, tạo ra các website phù hợp với kích thước màn hình như máy tính, ipad, mobile. Bootstrap giúp cho quá trình thiết kế websiste nhanh chóng hơn dựa trên những thành phần sẵn có như button, table, navigation. nó chứa tập tin html, css, js đã được biên dịch và nén lại, tái sử dụng một cách dễ dàng. Những ưu điểm mà Bootstrap mang lại: Rất dễ sử dụng: nó được xây dựng trên HTML, CSS và JS chỉ cần có kiến thức cơ bản về 3 thành phần này có thể sử dụng được framework này.
Bootstrap xây dựng sẵn responsive css trên các thiết bị mobile, desktop. Tính năng này khiến cho người dùng tiết kiệm được rất nhiều thời gian trong việc tạo ra các website phù hợp với kích thước màn hình Tương thích với các trình duyệt: nó tương thích với tất các các trình duyệt hiện nay như: Chrome, Firefox, Internet Explorer, Safari.