CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020 1. Hiện trạng mạng lưới giao thông vận tải ở thành phố Hồ Chí Minh.Tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh: 1. Vị trí địa lý: Hình 1.HCM với tổng diện tích là 2,095 km², ở vị trí 10o10’-10o38’ Bắc và 106o02’-106o54’ Đông; nằm ở trung tâm Nam Bộ, Bắc giáp Bình Dương, tây Bắc giáp Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp Đông Nai, Đông Nam giáp Bà Rịa Vũng Tàu, tây và Tây Nam giáp Long An, Tiền Giang, Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ Biển là 15km; là trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học lớn nhất ở 5 khu vực phía Nam. Đây cũng là một đầu mối giao thông lớn nhất cả nước, là cửa ngõ của thế giới với tất cả các loại hình vận tải: đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển và hàng không.
Dân số, việc làm: Dân số: Dân số thành phố Hồ Chí Minh vào đầu 2013 có 7.900 người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hơn 2,3 triệu người, số người trong độ tuổi lao động hơn 5,4 triệu (chiếm tỷ lệ 70% dân số), số người cao tuổi là 707.000 (chiếm tỷ lệ 9,1% dân số), số trẻ sinh bình quân trong 3 năm gần đây là 70.000 trẻ, mật độ dân số bình quân 3.698 người/km2 (mật độ dân số tại các quận nội thành 12.996 người/km2, mật độ dân số các huyện ngoại thành 823 người/km2). Thành phố có 24 quận - huyện và 322 phường - xã, thị trấn. Việc làm: Nguồn lao động thành phố có tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 3,5% / 1 năm và tăng dần qua các năm. Năm 2012, tổng nguồn lao động (bao gồm những người trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động vẫn có khả năng lao động) theo số liệu thống kê có 5,5 triệu người chiếm tỷ lệ 70,6% dân số.(Nguồn Trung tâm Dự báo báo nhu cầu nhân lựcvà Thông tin thị trường lao động TP.
Kinh tế - Văn hóa: Về kinh tế: Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuấtcông nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2012, GDP đạt 404.720 tỷ đồng, tăng khoảng 8,7%. Năm 2012, GDP đạt khoảng 9,2%, trong đó khu vực dịch vụ đạt khoảng 10,8%, công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 9,2%, nông lâm và thủy sản đạt 5%.
GDP bình quân đầu người đạt 3. Thu ngân sách năm 2012 ước đạt 215.975 tỷ đồng, nếu không tính ghi thu chi là 207.000 tỷ đồng, đạt 92,42% dự toán, bằng 105,40% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa đạt 109.500 tỷ đồng, bằng 88,81% dự toán, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 70.000 tỷ đồng, bằng 88,72% dự toán… (Nguồn: Tổng cục Thống kê) 6 Hình 1. Hiện trạng quan hệ phát triển kinh tế và an toàn giao thông Văn hóa: Với vị trí địa lý thuận lợi, TP.HCM nơi một thời được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" không những là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng.
Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hoá phương Đông, phương Tây, giữa nhiều vùng miền trong cả nước. Với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, TP.HCM đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục - khoa học kỹ thuật - y tế lớn bậc nhất của cả nước. Tuy nhiên, văn hóa giao thông của người dân thành phố vẫn còn nhiều vấn đề chấn chỉnh, đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình UTGT trong những năm qua.(Nguồn: http://www. Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và thương mại: Trong 3 khu vực của nền kinh tế, khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao nhất, tăng 12,2% và chiếm tỷ trọng 53,96% GDP của thành phố, trong khi đó ngành nông, lâm, thủy sản tăng trưởng 10,5% chỉ chiếm tỷ trọng 1,23% và nghành công nghiệp-xây dựng tăng trưởng 11,1% chiếm tỷ trọng 44,8%.
Bốn ngành dịch vụ tài chính-ngân hàng, du lịch, bưu chính-viễn thông, vận tải-dịch vụ cảng-kho bãi có tốc độ tăng trưởng cao, cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố đang đi đúng hướng nhằm gia tăng tỷ trọng của các nhóm ngành dịch vụ, phát huy tiềm năng thế mạnh của trung tâm tài chính, dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước, đặc biệt là tận dụng cơ hội phát triển các lĩnh vực này trong những năm 7 đầu Việt Nam gia nhập WTO. Tổng sản phẩm trong nước theo ngành nghề 1. Hiện trạng sử dụng đất: Hiện trạng sử dụng đất được chia theo đất thổ cư, đất công nghiệp, đất nông nghiệp và vùng đất sông, kênh. Tình hình sử dụng đất có những đặc điểm chính sau: Khu vực nội đô: Hầu hết các khu vực đều đã được xây dựng kín thành các khu vực dân cư và khu vực thương mại, ngoại trừ một số khu vực ngoại vi ở quận Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình, quận 6 và quận 8.
Thành phố có hai khu vực thương mại dịch vụ chính là Quận 1, quận 3 và giữa quận 5 và quận 6. Khu vực quận 1 là khu thương mại và du lịch lớn nhất và đồng thời cũng là trung tâm hành chính với nhiều cơ quan của chính quyền hoặc các cơ quan khác của thành phố. Khu vực ngoại thành: Ở khu vực ngoại thành, diện tích đất được sử dụng cho mục đích nông nghiệp và nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp đang được mọc lên và nằm xen kẽ nhau. So với khu vực nội thành, các khu vực dân cư nằm ở ngoại thành thường nằm rải rác, ngoại trừ các vùng quanh các khu vực trung tâm quận, huyện.
Các khu dân cư cũng tập trung thành một dải dọc các tuyến đường chính đi vào trung tâm và một số con kênh. Sự phát triển không gian đô thị và các mối quan hệ vận tải Nhận xét: Bên cạnh những bước tiến quan trọng đạt được, TP.HCM hiện cũng đang đối mặt với những khiếm khuyết, bất cập trong phát triển kinh tế-xã hội. Sự chênh lệch giữa các thành phần dân cư (đặc biệt là giữa nội thành và ngoại thành) về thu nhập, mức sống và về trình độ dân trí ngày càng gia tăng. Việc thành phố trở thành siêu đô thị với sự tập trung quá mức dân cư, cơ sở kinh tế, làm tăng nguy cơ phá vỡ cân bằng sinh thái.
Ngoài ra, hiện nay mức độ tập trung công nghiệp của thành phố hiện rất cao và nhanh chóng, các khu công nghiệp tập trung hình thành rất nhanh trong một thời gian ngắn nên đã thu hút một tỷ lệ lớn lao động rẻ, kỹ thuật thấp (khoảng 70%) từ nơi khác đến. Điều này đã tạo ra hiện tượng di dân cơ học với số lượng lớn từ các địa phương khác mà chủ yếu là từ nông thôn vào TP. Thành phố đang bộc lộ sự mất cân đối về nhà ở, điện, nước, hạ tầng giao thông, xã hội. Các KCN tập trung mới hình thành cùng với quá trình đô thị hóa vùng ven đã góp phần làm tăng nhanh di chuyển lao động giữa nội thành và ngoại thành, giữa TP.HCM với các tỉnh lân cận gây ách tắc giao thông trong giờ cao điểm, nhất là tại các cửa ngõ ra vào thành phố.
Cơ cấu tổ chức quản lý giao thông và an toàn giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh: Hiện nay, các cơ quan của thành phố chịu trách nhiệm trong công tác quản lý về kết cấu hạ tầng giao thông và trật tự ATGT trên địa bàn thành phố như sau: ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BAN ATGTTP UBND quận CÔNG CÁC SỞ, SỞ GIAO THÔNG AN TP VẬN TẢI huyện NGÀNH Phòng QLXD Phòng QLKT Phòng QLSH và cấp phép HT GTĐB CT GTĐB Các phòng QLVTĐB ban khác Phòng lái xe Đ/vị điều tra tai nạn CSGT quận/huyện Đơn vị phụ trách Đơn vị đăng ký Ban ATGT các Đơn vị tuần tra phương tiện quận/huyện cáccửa ngõ Các trung tâm Thanh tra Sở QLGT đô thị Các đơn vị đăng kiểm Trung tâm QLĐHVT Các Khu HKCC GTVT khác Quản lý trực tiếp (hành chính-tổ chức) Quản lý nhà nước (luật lệ, thủ tục) Hình 1. Sơ đồ tổ chức quản lý giao thông đô thị và ATGT tại TP.HCM (Nguồn Sở Giao thông vận tải TP.HCM ) Trong công tác quản lý hệ thống hạ tầng giao thông đô thị còn chồng chéo chức năng trong công tác quản lý kết cấu giao thông đô thị gây khó khăn cho công tác chống UTGT và đảm bảo trật tự ATGT, cụ thể theo Nghị định số 13/2008/NĐ- CP ngày 24 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp, kết cấu hạ tầng giao thông đô thị (cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, công viên cây xanh) sẽ được chuyển từ Sở GTVT sang Sở Xây dựng quản lý. Đến nay chỉ mới bàn giao việc quản lý hệ thống thoát nước cho Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước TP quản lý, điều này đã nảy sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý trong thời gian qua. Công tác xây dụng và ban hành các chính sách, pháp luật, thực thi pháp luật 10 về trật tự ATGT có nhiều cố gắng và đạt được một số kết quả tích cực.
Tất cả các văn bản nêu trên đã hợp thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về trật tự ATGT, tạo thành khung pháp lý tương đối đầy đủ. Tuy nhiên,vẫn còn một số các bất cập với một số ngành khác, chưa ổn định cần khắc phục. Điểm tồn tại đáng lưu ý là tình trạng ban hành văn bản trái thẩm quyền, nhiều quy định về nội dung còn chưa phù hợp với quy định của luật và các văn bản của cấp trên; cơ chế xử phạt người vi phạm luật lệ giao thông hiện tại tỏ ra quá phức tạp và rất khó hiểu, việc thực thi có thể lỏng lẻo và tùy tiện, tùy thuộc vào người thi hành công vụ. Bên cạnh đó, tình trạng ban hành văn bản còn chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và thể hiện sự lúng túng, bị động trước thực tế diễn biến phức tạp của trật tự ATGT.
Thực trạng hệ thống giao thông vận tải của thành phố Hồ Chí Minh: 1. Cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ: a.