Nghiên cứu xây dựng và vận hành trạm MRF tại trường học quận Liên Chiểu, Đà Nẵng

Luận văn nghiên cứu mô hình xây dựng và vận hành trạm MRF tại trường học quận Liên Chiểu, Đà Nẵng. Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của Trạm MRF tại trường học

Trạm MRF (Material Recovery Facility - Cơ sở Phục hồi Rác Tài nguyên) là một hạng mục công trình quan trọng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các trường học. Đây là giải pháp hiệu quả để phân loại rác tại nguồn và tái chế các tài nguyên có giá trị từ rác thải. Việc xây dựng trạm tái chế rác tại trường học Đà Nẵng không chỉ giúp giảm lượng chất thải đổ vào môi trường mà còn nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh. Theo nghiên cứu từ Đại học Đà Nẵng, việc vận hành cơ sở thu hồi rác tài nguyên tại các trường học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở mang lại hiệu quả thiết thực. Trạm MRF giúp phân tách các loại rác như giấy, nhựa, kim loại, hộp sữa để tái chế, từ đó tạo giá trị kinh tế và môi trường bền vững cho cộng đồng học sinh và địa phương.

1.1. Định nghĩa trạm MRF và mục đích xây dựng

Trạm MRF là công trình thu gom, phân loại và xử lý rác tài nguyên từ nhiều nguồn. Mục đích chính là tách các thành phần có giá trị từ chất thải rắn sinh hoạt để tái chế. Tại trường học, trạm MRF đóng vai trò giáo dục quan trọng, giúp học sinh hiểu rõ quy trình phân loại rác tại nguồn và tác động tích cực của hành động này đến môi trường địa phương.

1.2. Lợi ích kinh tế và môi trường

Xây dựng trạm tái chế rác tại các trường học Đà Nẵng mang lại nhiều lợi ích. Về mặt kinh tế, các vật liệu tái chế như giấy, nhựa, kim loại có thể bán được tạo doanh thu. Về môi trường, giảm lượng chất thải đi vào bãi rác, giảm ô nhiễm đất và nước. Đặc biệt, việc ủ phân compost từ rác hữu cơ tạo ra phân bón hữu cơ quý giá cho các hoạt động sinh hoạt và giáo dục tại trường.

II. Quá trình xây dựng và vận hành Trạm MRF tại trường học

Quá trình xây dựng trạm MRF tại trường học Đà Nẵng bao gồm nhiều bước quan trọng từ khảo sát địa bàn, thiết kế quy trình vận hành đến đào tạo nhân sự. Theo công trình khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thu Uyên tại Đại học Đà Nẵng, việc vận hành cơ sở phục hồi rác tài nguyên cần tuân theo các quy trình chính xác. Đầu tiên, thực hiện kiểm toán chất thải rắn để nắm rõ thành phần rác phát sinh tại trường. Tiếp theo, triển khai hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho toàn bộ học sinh, giáo viên và nhân viên. Sau đó, xây dựng hệ thống thu gom và phân loại rác, lắp đặt thiết bị xử lý. Cuối cùng, đưa trạm vào hoạt động chính thức với các biện pháp giám sát và đánh giá hiệu quả vận hành.

2.1. Các bước xây dựng trạm MRF

Xây dựng trạm tái chế rác bắt đầu từ kiểm toán chất thải rắn sinh hoạt chi tiết, xác định khối lượng và thành phần rác. Tiếp theo là lập kế hoạch vận hành, thiết kế không gian bộ phận phân loại và lưu trữ. Cần chuẩn bị thùng rác phân loại, thiết bị sơ chế, khu ủ compost. Đồng thời, phải xây dựng quy định nội bộ về phân loại rác tại nguồn cho tất cả thành viên trường.

2.2. Quy trình vận hành và quản lý

Quá trình vận hành cơ sở phục hồi rác tài nguyên tại trường học bao gồm: thu gom rác từ các lớp học, phân loại thành các loại (giấy, nhựa, kim loại, hộp sữa, chất thải hữu cơ), tái chế hoặc ủ compost. Cần có nhân viên phụ trách hàng ngày, sổ sách ghi chép khối lượng rác xử lý. Đánh giá định kỳ hiệu quả hoạt động và điều chỉnh quy trình để tối ưu hóa xử lý chất thải rắn.

III. Triển khai tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng học sinh

Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức là yếu tố then chốt để thành công trong việc xây dựng và vận hành trạm MRF tại trường học. Theo kết quả nghiên cứu tại các trường mầm non tuổi thơ, tiểu học Nguyễn Đức Cảnh và trung học cơ sở Đàm Quang Trung trên địa bàn quận Liên Chiểu, Đà Nẵng, các hoạt động truyền thông về phân loại rác tại nguồn đã đạt kết quả tích cực. Các hình thức tuyên truyền bao gồm tuyên truyền dưới cờ, hội thoại trong lớp học, tờ rơi, poster, video giáo dục. Học sinh được hướng dẫn thực hành tái chế, tham gia thu gom và phân loại rác hàng ngày. Kết quả khảo sát cho thấy ý thức của học sinh về bảo vệ môi trường và tầm quan trọng của tái chế rác đã cải thiện đáng kể, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động vận hành trạm.

3.1. Chiến lược truyền thông hiệu quả

Triển khai tuyên truyền về phân loại rác tại nguồn cần đa dạng hình thức. Sử dụng các buổi tuyên truyền dưới cờ chủ đề, các buổi hội thảo lớp học với học sinh. Phát hành tờ rơi, poster có hình ảnh sinh động về lợi ích của tái chế rác và quy trình hoạt động trạm MRF. Tổ chức các cuộc thi, chương trình học tập môi trường. Mời đoàn thanh niên, nhân viên môi trường đến tương tác với học sinh, chia sẻ kinh nghiệm bảo vệ môi trường.

3.2. Đánh giá hiệu quả nâng cao nhận thức

Sau khi triển khai các hoạt động truyền thông, tiến hành khảo sát đánh giá sự thay đổi nhận thức của học sinh bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ hiểu biết của học sinh về chất thải rắn sinh hoạt và cách phân loại rác tăng lên rõ rệt. Học sinh có ý thức hơn trong việc tham gia xử lý rác, hạn chế rác thải. Sự thay đổi tích cực này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận hành trạm tái chế rác liên tục và bền vững.

IV. Kết quả và kiến nghị cải tiến cho Trạm MRF tại trường học Đà Nẵng

Quá trình xây dựng và vận hành trạm MRF tại các trường học quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Tại trường mầm non tuổi thơ, tiểu học Nguyễn Đức Cảnh và trung học cơ sở Đàm Quang Trung, lượng rác tài nguyên được thu gom và tái chế tăng lên đều đặn theo thời gian. Các dòng thải được xử lý bao gồm giấy, nhựa, kim loại, hộp sữa, và chất thải hữu cơ được ủ thành compost. Tuy nhiên, quá trình vận hành cũng gặp một số thách thức cần giải quyết. Để nâng cao hiệu quả hoạt động cơ sở phục hồi rác tài nguyên, cần đầu tư thêm thiết bị, tăng cường đội ngũ nhân viên, cải thiện kỹ năng quản lý. Cần thường xuyên đánh giá hiệu quả vận hành, điều chỉnh quy trình, đề xuất các giải pháp cải tiến để quản lý chất thải rắn ngày càng hoàn thiện.

4.1. Các kết quả đạt được từ vận hành trạm

Kết quả vận hành trạm MRF tại các trường học cho thấy khối lượng rác tái chế được thu gom liên tục tăng. Riêng tại trường tiểu học Nguyễn Đức Cảnh, các loại rác tài nguyên như giấy, nhựa, hộp sữa, kim loại được phân loại và xử lý hiệu quả hàng tháng. Chất thải hữu cơ được ủ compost tạo ra phân bón chất lượng. Học sinh tham gia tích cực vào hoạt động thu gom và phân loại. Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường thông qua phân loại rác tại nguồn được nâng cao rõ rệt.

4.2. Giải pháp cải tiến và kiến nghị phát triển

Để nâng cao hiệu quả hoạt động trạm tái chế rác, cần đầu tư thêm thiết bị xử lý hiện đại, tập huấn nâng cao kỹ năng quản lý cho nhân viên. Mở rộng hoạt động thu gom đến các gia đình học sinh trong khu vực lân cận. Liên kết với các doanh nghiệp tái chế để đảm bảo tiêu thụ sản phẩm tái chế. Lập kế hoạch phát triển bền vững, xây dựng mô hình nhân rộng trạm MRF đến các trường học khác trong thành phố Đà Nẵng.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay vấn đề về chất thải rắn đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, nó đã và đang trở thành mối lo ngại và là thách thức lớn đối với môi trường, sức khỏe và đời sống con người. Cùng với sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ thì chất thải rắn (CTR) cũng ngày càng tăng cả về số lượng và chủng loại. Có thể thấy trong CTR thì lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tiếp tục tăng trên phạm vi cả nước.

Ước tính lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm. Lượng CTRSH đô thị tăng mạnh ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng. Tổng khối lượng CTRSH phát sinh tại khu vực đô thị trong cả nước là 35.624 tấn/ ngày, chiếm khoảng 55% tổng lượng CTRSH phát sinh của cả nước. Đối mặt với vấn đề CTR ngày càng tăng nhưng công tác quản lý, thu gom và xử lý CTR lại chưa thực sự mang lại hiệu quả.

Có thể thấy hàng năm ngân sách của các địa phương phải chi trả một khoản khá lớn cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR (Hương, 2019). Chi phí xử lý CTR tuỳ thuộc vào công nghệ xử lý: Mức chi phí xử lý cho công nghệ hợp vệ sinh là 115.000đ/tấn và chi phí chôn lấp hợp vệ sinh có tính đến thu hồi vốn đầu tư 219. Chi phí xử lý đối với công nghệ xử lý rác thành phân vi sinh khoảng 150. Chi phí đối với công nghệ chế biến rác thành viên đốt được ước tính khoảng 230.

Tuy nhiên, phương pháp xử lý bằng công nghệ chôn lấp lại chiếm ưu thế và gây ô nhiễm rất lớn. Cụ thể, theo tổng hợp của Bộ TN & MT hiện nay trên cả nước có khoảng 904 bãi chôn lấp CTRSH trong đó nhiều bãi chôn lấp không hợp vệ sinh trên tổng số 1.322 cơ sở xử lý CTRSH. Hiện nay thành phố Đà Nẵng cũng đang phải đối mặt với những vấn đề môi trường, trong đó cần quan tâm đến những vấn đề về CTRSH. Những năm gần đây, khối lượng CTRSH của thành phố Đà Nẵng tăng nhanh cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Năm 2019, khối lượng CTRSH thu gom toàn thành phố vào khoảng 1.100 tấn/ngày (tỷ lệ thu gom khoảng 95%), được vận chuyển đến Khu xử lý chất thải Khánh Sơn để chôn lấp. Theo dự báo, CTRSH của thành phố đến năm 2025 trên 1.800 tấn/ngày; đến năm 2030 khoảng trên 2.400 tấn/ngày, và đến năm 2040 khoảng trên 3. Để 1 ngăn chặn sự gia tăng của rác thải là điều không thể, nhưng để giảm thiểu lượng rác thải ra môi trường thì chúng ta cần có bước đi thật hiệu quả để thay đổi từ trong ý thức của các thế hệ. Thế hệ đó không ai khác chính là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường như học sinh mầm non, tiểu học đến trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Bởi lẽ, trong công cuộc bảo vệ môi trường (BVMT) thì giáo dục sẽ giúp nâng cao nhận thức, định hướng hành vi, thói quen bỏ rác đúng nơi quy định, biết phân loại rác, giảm thiểu xả rác và tái chế để sử dụng lại những đồ vật thải ra, hạn chế sự gia tăng lượng rác thải. Học sinh chính là lực lượng tiên phong trong công cuộc bảo vệ môi trường bởi chính các em sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước không những thế những điều này còn có thể tác động tích cực đến hành vi của cha mẹ, người thân của các em và toàn xã hội. Nhận thấy những bất cập trên do đó nghiên cứu “Nghiên cứu xây dựng và vận hành cơ sở phục hồi tài nguyên (MRF) tại trường học trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” được thực hiện nhằm hỗ trợ cho công tác phân loại, thu gom, xử lý trở nên hiệu quả và góp phần giảm áp lực đến cơ sở hạ tầng và công tác quản lý cho thành phố. Mục tiêu đề tài Xây dựng và vận hành cơ sở phục hồi tài nguyên, đánh giá hiệu quả mô hình cơ sở phục hồi tài nguyên tại trường học và đề xuất giải pháp cải thiện cho việc vận hành Trạm.

Ý nghĩa của đề tài ➢ Ý nghĩa khoa học Đề tài cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc tiếp cận vận hành cơ sở thu hồi rác tài nguyên tại trường học. ➢ Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp kết quả triển khai thí điểm mô hình MRF về quy trình vận hành và giải pháp thực hiện trên cơ sở đó sẽ đưa ra được các tiêu chí vận hành, giải pháp thiết thực cho mô hình cơ sở thu hồi rác tài nguyên tại trường học. Nội dung nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng phát sinh CTR tại trường học. - Tổ chức hoạt động lắp đặt và vận hành Trạm MRF.

- Đánh giá hiệu quả quá trình vận hành Trạm MRF và đề xuất giải pháp cải tiến. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở pháp lý về quản lý CTRSH Nhiều cơ chế, chính sách, quy định và hướng quản lý chất thải tổng hợp CTR nói chung và CTRSH nói riêng đã được hoàn thiện và ban hành như sau: Luật BVMT (2014), Luật BVMT 2020 đã bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến quản lý CTRSH. Luật Phí và lệ phí (2015), Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.

Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 (LBVMT 2014) Luật Bảo Vệ Môi Trường 2020 đã bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến quản lý CTRSH (LBVMT, 2020) Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2018 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 (491/QĐ-TTg, 2018). Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 11 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020 (582/QĐ-TTg, 2013) Nghị định số 38/2015/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 40/2019/NĐ- CP ngày 13 tháng 5 năm 2019), CTR hiện đang được phân loại và quản lý theo các loại khác nhau, bao gồm: CTNH, CTRSH, CTR công nghiệp thông thường và các chất thải đặc thù khác như chất thải từ hoạt động y tế, CTR từ hoạt động xây dựng, chất thải từ hoạt động nông nghiệp, chất thải từ hoạt động giao thông vận tải. Trong các loại CTR nêu trên, trách nhiệm quản lý Nhà nước về CTNH trên phạm vi toàn quốc đã được thống nhất giao cho Bộ TNMT. Đối với CTR khác (bao gồm CTRSH), mặc dù có sự tham gia quản lý của nhiều Bộ, cơ quan liên quan nhưng về cơ bản đang được thực hiện theo hướng Bộ TNMT là cơ quan Nhà nước thống nhất quản lý, các Bộ liên quan quản lý chuyên ngành kỹ thuật theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định (38/2015/NĐ- CP, 2015).

Quyết định 16/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quy định về thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ. Quyết định chỉ rõ trách nhiệm, quyền lợi của cơ quan quản lý nhà nước, người tiêu dùng, cơ sở phân phối và đặc biệt là nhà sản xuất trong việc thu hồi và xử 3 lý sản phẩm thải bỏ. Nhà sản xuất và cơ sở phân phối có trách nhiệm tiếp nhận và bố trí các biện pháp thu hồi sản phẩm của mình, nhưng hiện nay hầu hết các nhà phân phối chưa có các biện pháp thu hồi và xử lý (16/2015/QĐ-TTg, 2015). Ngày 19/12/2018, HĐND thành phố Đà Nẵng đã ban hành Nghị quyết số 204/NQ- HĐND về việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt đến năm 2025, nhằm hướng đến mục tiêu hướng dẫn, vận động cho tất cả các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân tiến hành phân loại để thu gom, vận chuyển, xử lý triệt để lượng rác thải phát sinh hàng ngày, bảo vệ môi trường sinh thái, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

Quyết định số 1577/QĐ-UBND-2019 kế hoạch triển khai phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025 (ĐN, 2019). Ngày 23/8/2019, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 3770/QĐ-UBND để triển khai thực hiện Nghị quyết 204/NQ-HĐND thành phố, UBND thành phố đã đề ra các giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo công tác quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý CTR trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Tình hình quản lý chất thải rắn và phân loại rác tại nguồn 1.1 Trên Thế Giới Nhiều quốc gia trên Thế giới đã có những bước tiến trong công tác quản lý chất thải rắn điển hình như: Thụy Điển là một trong những quốc gia đi đầu thế giới về tái chế rác thải, đã áp dụng chính sách tái chế thống nhất trên toàn quốc. Rác thải hữu cơ tại các gia đình được làm nhiên liệu đốt cho các nhà máy và sưởi ấm; các loại rác không cháy được, được tách ra để tái chế; các loại rác vô cơ dùng để trải đường, làm mái ngói, gạch lót sàn.

Có tới 96% rác được tái chế, chỉ 4% được đem chôn lấp. Vào năm 1975, chỉ có 38% rác thải ở Thụy Điển được tái chế, thì đến nay, đây là quốc gia đầu tiên chạm mốc tái chế, tái sử dụng 99% rác thải sinh hoạt hàng ngày của người dân (Salman, 2022). Singapore từ năm 2001 đã triển khai chương trình xử lý rác thải nhằm tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh. Tỷ lệ tái chế rác hiện ở mức cao là 60%, Singapore chỉ chôn 2% lượng rác thải rắn và đã xây đảo nhân tạo được bồi lấp từ rác.

Singapore cũng dùng phương pháp đốt, nhờ đó giảm 4 được lượng rác đổ vào các bãi chôn đồng thời có thể tạo ra điện năng. Hiện nay, 4 nhà máy đốt 38% rác thải đáp ứng gần 3% nhu cầu điện năng của Singapore (Salman, 2022). Na Uy, nơi vòng đời của một số chai nhựa có thể tái chế đến 50 lần, 92% chai nhựa sản xuất tại Na Uy được làm từ vật liệu nhựa chất lượng cao và có thể tiếp tục dùng để đựng nước uống. Loại nhựa bắt buộc phải thải ra môi trường vì không thể tái chế được, chỉ có chưa đến 1%.

Điều này đã biến Na Uy trở thành hình mẫu của cá thế giới trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đầu năm 1984, Chính phủ Đài Loan đã quan tâm tới quản lý và xử lý CTR.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ