Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn 1. Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn trên thế giới Sinh thái nhân văn được công nhận là khởi sinh vào năm 1921, khi nó được đề cập như một lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học, trong cuốn sách giáo khoa “Tổng quan về xã hội học” của nhóm tác giả tại Đại học Chicago, do Robert E. Park là chủ biên.
Ra đời bởi một nhà xã hội học, mang cái tên gần gũi với sinh thái học, sinh thái nhân văn có một lịch sử phát triển thăng trầm phức tạp. Để hiểu rõ khái niệm STNV, cần phải xem xét quá trình lịch sử phát triển của nó [27]. Khởi đầu, thuật ngữ “Sinh thái nhân văn” có nội dung hẹp, hàm nghĩa là ứng dụng các quy luật sinh thái vào nghiên cứu xã hội học đô thị Chicago, trong giai đoạn nó mở rộng và tiếp nhận lượng dân nhập cư đa dạng. Sinh thái nhân văn được phát triển nhằm phục vụ việc nghiên cứu bản chất mối quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình tự tổ chức và cấu trúc hệ xã hội theo lý thuyết đồng hóa, nghĩa là mang tính xã hội học.
Trong sự phát triển sau đó của sinh thái nhân văn, Robert E. Park, bận rộn với vai trò là một nhà xã hội học xuất chúng, đã không thể dành cho ngành khoa học này một sự quan tâm xứng tầm. Trong xã hội học, sinh thái nhân văn chưa nhận được sự quan tâm đặc biệt của các học giả khác, nhất là khi nó hiện diện bên cạnh, hoặc thậm chí bị đồng nhất với những ngành khoa học đã có lịch sử và cơ sở lý thuyết đáng nể, như nhân chủng học, dân tộc học… Theo thời gian, STNV ngày càng tách xa khỏi xã hội học, phạm vi nghiên cứu của nó được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác có liên quan đến con người, như nhân chủng học, dân tộc học, sinh thái học người, kinh tế hộ và PTBV. Theo Jean - Clauder Paseson, 1992, “Để xác định được vị trí của mỗi ngành khoa học về con người so với với các ngành khác, ít nhất việc phân loại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn ngành phải đi kèm với thỏa thuận về phân chia nhiệm vụ.
Nhưng đây cũng là một mục tiêu khó đạt, do cơ cấu nghiên cứu không ngừng thay đổi”. Sự phát triển lý thuyết hệ thống và năng lượng đã thổi luồng gió mới vào khoa học sinh thái nhân văn, giúp nó định hình rõ nét hơn và thu hút được sự quan tâm hơn của nhiều nhà khoa học. Từ thập niên 1970, khoa học sinh thái nhân văn có sự vượt bậc bước sang thời kỳ phát triển mới. Nó đã tập hợp được lực lượng trong nhiều trung tâm nghiên cứu độc lập, như Viện Sinh thái nhân văn ở California, Trung tâm Sinh thái nhân văn thuộc Đại học Edinburgh, các trường đại học, các tổ chức xã hội chuyên nghiệp ở châu Âu như Liên minh quốc tế của Ủy ban Khoa học nhân chủng học và dân tộc học về Sinh thái nhân văn… Nhiều hội sinh thái nhân văn được thành lập, như Ủy ban Sinh thái nhân văn khối cộng đồng chung Vương Quốc Anh có trụ sở tại Luân đôn, tổ chức Sinh thái nhân văn Quốc tế có trụ sở tại Viên.
Năm 1979, Hội sinh thái nhân văn (tên viết tắt là SHE) được thành lập và nhanh chóng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành. Young, sáng lập viên đồng thời là chủ tịch thứ tư của hội, trở thành nhân vật có ảnh hưởng tích cực, đóng góp đáng kể vào việc phát triển sinh thái nhân văn thành lĩnh vực đa ngành, tạo ra ý nghĩa mới cho tên gọi sinh thái nhân văn. Hội đã giúp phát triển việc đào tạo ngành khoa học này tại nhiều trường đại học như: Đại học Tự do Brussels, đại học California, đại học Washington, đại học Michigan, đại học Colorado tại Boulder… Trước đây, trong các nghiên cứu sinh thái học con người thường chỉ đứng ngoài như một siêu yếu tố để quan sát và nhận định các quá trình tự nhiên. Ngày nay, có thể nói không có một hệ sinh thái nào trên bề mặt trái đất lại không có sự tác động của con người.
Cũng vì thế mà năm 1971, Tổ chức Khoa học, Văn hoá và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đề xướng và thành lập chương trình “Con người và Sinh quyển - (MAB)”. Mục tiêu rộng lớn của chương trình này là phát triển trên cơ sở kết hợp giữa khoa học tự nhiên và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn khoa học xã hội trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh quyển để cải thiện mối quan hệ toàn cầu giữa con người và thiên nhiên, cảnh báo hậu quả các hoạt động của con người ngày nay lên thế giới ngày mai và bằng cách đó tăng cường khả năng của con người để bảo vệ một cách hiệu quả hơn tài nguyên Sinh quyển. STNV phát triển thành một ngành khoa học đa ngành, thực hiện nghiên cứu trên cơ sở kết hợp sức mạnh của nhiều ngành theo một cách đặc biệt, tổng hợp và chồng chéo kiến thức để tạo ra một cách tiếp cận toàn diện, nhằm vào các vấn đề vượt ra ngoài ranh giới của các ngành. Theo từ điển môi trường, "Sinh thái nhân văn là hệ thống các nguyên tắc đạo đức, triết lý thống trị của con người đối với trái đất và sinh vật, nơi sự thống nhất của con người và Môi trường là cần thiết cho phúc lợi xã hội.
Sinh thái nhân văn dựa trên một sự tiến hóa tiếp cận trong môi trường và thích ứng văn hóa và tiến hóa của con người. Sinh thái nhân văn nghiên cứu sự mất cân bằng các mối quan hệ giữa con người và môi trường, liên quan đến bệnh tật, cung cấp thực phẩm, dân số sinh thái, ô nhiễm môi trường, phân phối không đồng đều và sử dụng các nguồn lực vô lý. Cách tiếp cận sinh thái nhân văn là ứng dụng khoa học sinh thái nhân văn để nghiên cứu một cách có hệ thống hệ sinh thái của con người, hướng tới các điều kiện cân bằng, ổn định của toàn hệ thống. Tổng quan những nghiên cứu về sinh thái nhân văn ở Việt Nam Khoa học STNV đến Việt Nam khá muộn, vào giai đoạn thứ hai của lịch sử ngành.
Năm 1990, Lê Trọng Cúc đã lần đầu tiên công bố một công trình nghiên cứu sinh thái nhân văn. Tiếp theo đó, độc lập hoặc đồng tác giả với nhiều nhà nghiên cứu khác, trong đó có A. Terry Rambo, Lê Trọng Cúc đã có hàng loạt các công bố chính thức khác về sinh thái nhân văn [6], [7], [8], [9],[22],[23]. Tiếp cận sinh thái nhân văn học đã trở nên đặc biệt hữu dụng cho các công trình nghiên cứu của giáo sư và các cộng sự về trung du và miền núi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Định nghĩa về STNV của Lê Trọng Cúc hiện được trích dẫn nhiều nhất ở Việt Nam. Theo ông, sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường ở mức độ hệ thống, đúng hơn là nghiên cứu mối quan hệ giữa xã hội loài người (hệ xã hội) và môi trường thiên nhiên (hệ sinh thái - hệ tự nhiên). Việc nhấn mạnh “Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường ở mức độ hệ thống” là một điểm quan trọng trong định nghĩa này. Mục đích của nghiên cứu sinh thái nhân văn là nhằm tìm hiểu, nhận biết đặc điểm và mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này với nhau và sự hình thành những đặc trưng trong hệ thống xã hội và hệ sinh thái.
Sinh thái nhân văn nghiên cứu ba vấn đề là: 1- Các dòng năng lượng, vật chất, thông tin chuyển từ hệ sinh thái đến hệ xã hội và từ hệ xã hội đến hệ sinh thái là gì? 2- Hoạt động của con người gây nên tác động gì đối với hệ sinh thái? 3- Hệ xã hội thích nghi và phản ứng trước thay đổi của hệ sinh thái như thế nào? STNV ở Việt Nam được thực hành thành công nhất trong nghiên cứu những hệ thống quy mô nhỏ, nơi nó thực sự đã thể hiện được thế mạnh ưu việt. Các kết quả nghiên cứu sinh thái nhân văn được đánh giá cao đều gắn liền với vùng nghiên cứu ở miền núi hoặc nông thôn nông nghiệp [8], [9], [11]. Khi yêu cầu phát triển bền vững đang ngày càng lớn, STNV là một cách tiếp cận có khả năng mang lại những điều chỉnh và vận dụng hiệu quả, phù hợp hơn với bối cảnh hiện tại. Là môn khoa học nghiên cứu quan hệ giữa con người với môi trường thiên nhiên ở mức độ hệ thống, nghiên cứu STNV đã được ứng dụng tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu hệ thống tự nhiên, môi trường và xã hội.
STNV nêu lên những giá trị đạo đức, nghĩa vụ tôn trọng thiên nhiên, quan tâm đến chia sẻ công bằng lợi ích và chi phí trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường giữa các cộng đồng, giữa người giàu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn và người nghèo, giữa thế hệ chúng ta và thế hệ mai sau, nhằm đảm bảo các mục tiêu phát triển bền vững. Sinh thái nhân văn học được Giáo sư Tiến sĩ Lê Trọng Cúc, Đại học Quốc gia Hà Nội đưa vào giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam từ những năm 1980. Bắt đầu từ đây, sinh thái nhân văn bắt đầu “bén rễ” vào các công trình khoa học cơ bản và ứng dụng, cũng như “kết trái” thành các bài giảng trong những khóa học ngắn hạn 3 tháng, 6 tháng tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường. Sau đó trở thành môn học chính thức trong chương trình đào tạo cử nhân mã ngành “Khoa học môi trường”, thạc sĩ ngành “môi trường phát triển bền vững” tại Đại học Quốc gia Hà Nội.
Khởi đầu của sinh thái nhân văn học là giai đoạn thực hiện Chương trình cấp nhà nước 5202 “Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” từ năm 1981-1990. Đây là chương trình đã tập hợp được các chuyên gia hàng đầu, mở ra mối quan tâm tập trung vào nghiên cứu đánh giá sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Đặc biệt là ở các khu vực miền núi, trung du, rừng ngập mặn cửa sông cửa biển và các vấn đề môi trường bức xúc.