Chương 1 HỒ CHÍ MINH KHẢO CỨU VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHÀ NƢỚC DÂN CHỦ CỘNG HÒA Ở VIỆT NAM 1. Quá trình Nguyễn Ái Quốc tìm con đƣờng giải phóng dân tộc và mô hình nhà nƣớc kiểu mới cho Việt Nam 1. Hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX Tình hình thế giới: Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản thế giới chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc ngày càng gay gắt, dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918).
Sau Chiến tranh, phe Trục gồm Đức - Áo - Hung - Thổ Nhĩ Kỳ - Bungari thất bại, phe Đồng minh đứng đầu là Mỹ - Anh - Pháp chiến thắng. Mặc dù là nước thắng trận, nhưng bị thiệt hại nặng nề về kinh tế, Pháp trở thành một con nợ lớn, vì vậy để khôi phục nền kinh tế, thực dân Pháp một mặt thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, mặt khác tăng cường đầu tư ra nước ngoài, đẩy mạnh khai thác thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Nước Nga tham gia chiến tranh ngay từ đầu nhưng bị thiệt hại nặng nề, nền kinh tế khủng hoảng nghiêm trọng. Trong bối cảnh ấy, Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.
Lênin đã giương cao ngọn cờ đấu tranh chống chiến tranh đế quốc và chống chủ nghĩa sô vanh; nêu hai khẩu hiệu: “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến” và “Làm cho chính phủ mình thất bại trong chiến tranh đế quốc”. Năm 1917, ở nước Nga đã diễn ra cuộc Cách mạng dân chủ tư sản Tháng Hai, sau đó là cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử loài người. Năm 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, tạo điều kiện cho sự ra đời hàng loạt đảng cộng sản ở các nước: Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… Từ khi ra đời cho đến khi giải thể (1943), Quốc tế Cộng sản đã chỉ đạo hoạt động của hầu hết các đảng cộng sản trên thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1922, Liên Xô ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu trong đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và công cuộc xây dựng chủ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa xã hội. Liên Xô trở thành trung tâm cách mạng của thế giới, là lực lượng chủ yếu đấu tranh chống các thế lực phản động quốc tế hiếu chiến, có công đầu về tiêu diệt chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945). Sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Ở Trung Quốc, năm 1911, Cách mạng Tân Hợi thành công, xóa bỏ chế độ phong kiến, lập ra chính phủ tư sản dân tộc dưới sự lãnh đạo của Quốc dân Đảng do Tôn Trung Sơn đứng đầu.
Tuy nhiên, sau đó chính quyền lại rơi vào tay các thế lực quân phiệt do Viên Thế Khải cầm đầu. Năm 1925, Tưởng Giới Thạch đứng đầu Quốc dân Đảng, thi hành chính sách chống cộng, gây nội chiến ở Trung Quốc, đến năm 1949 mới bị Đảng Cộng sản đánh bại. Tình hình thế giới đã tác động mạnh mẽ đến Việt Nam. Tình hình Việt Nam: Giai đoạn này, Việt Nam nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
Triều đình phong kiến nhà Nguyễn nhu nhược, ươn hèn cam tâm làm tay sai cho đế quốc, mất hết thực quyền. Từ năm 1919 - 1929, thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương, tăng cường vơ vét tài nguyên khoáng sản, bóc lột nhân dân ta. Khác với đợt khai thác thuộc địa lần trước, (1897 - 1914), Pháp mở rộng đầu tư khai thác nhiều lĩnh vực, tốc độ chậm chạp, kéo dài, lần này Pháp tiến hành đầu tư ồ ạt, tốc độ nhanh hơn và quy mô rộng lớn hơn nhiều. Nếu lần trước nguồn vốn chủ yếu đầu tư vào các ngành khai mỏ và giao thông vận tải thì lần này tập trung vào nông nghiệp và khai thác khoáng sản.
Chính nhân tố này làm biến đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế Việt Nam. Do chính sách mở rộng nông nghiệp, các nhà tư sản Pháp chiếm đất ruộng của nông dân lập đồn điền để trồng lúa, cây công nghiệp (chè, cà phê, cao su…). Chúng giao ruộng đất cho nông dân theo kiểu phát canh thu tô mà không đầu tư các biện pháp kỹ thuật nên năng suất lúa ở Việt Nam rất thấp. Khi giá cao su tăng cao, Pháp đẩy mạnh kinh doanh mặt hàng này, diện tích trồng cao su tăng vọt.
Mặc dù vậy, tốc độ phát triển nông nghiệp Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước châu Á khác. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các ngành công nghiệp như khai thác than được mở rộng. Nhiều công ty than được thành lập ở Quảng Ninh, sản lượng than khai thác tăng dần. Ngoài than đá, các cơ sở khai thác mỏ thiếc, kẽm, sắt đều được bổ sung thêm vốn, công nhân và đẩy nhanh tiến độ khai thác.
Bên cạnh đó, một số cơ sở chế biến quặng, đúc kẽm, thiếc cũng ra đời. Các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến như nhà máy xi măng ở Hải Phòng, nhà máy tơ, sợi và dệt ở Hà Nội, Nam Định, Sài Gòn; các nhà máy xay xát gạo, chế biến rượu, làm đường ở Hải Dương, Hà Nội, Chợ Lớn… đều phát triển nhanh chóng. Nhưng ngành công nghiệp nặng theo đúng nghĩa vẫn chưa ra đời. Công nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu là công nghiệp dịch vụ và phục vụ, phụ thuộc vào thực dân Pháp và thị trường nước ngoài.
Để đáp ứng yêu cầu khai thác thuộc địa thời kỳ này, ngành giao thông vận tải tiếp tục được tăng cường đầu tư vốn và các trang thiết bị kỹ thuật. Các đường sắt nối Vinh - Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm được xây thêm; mở nhiều đường quốc lộ và đường liên tỉnh; mở rộng và xây thêm một số hải cảng, mở rộng mạng lưới giao thông đường thủy. Ngành thương nghiệp phát triển vượt bậc so với thời kỳ trước chiến tranh. Hàng hóa xuất siêu khá lớn, các đối tác nước ngoài được mở rộng.
Hàng hóa xuất khẩu là khoáng sản, lúa gạo, cao su, chè, hạt tiêu… Hàng nhập khẩu (chủ yếu từ Pháp) bao gồm: vải, bông, sợi, giày dép, rượu, thuốc lá… Các hoạt động thương mại lớn đều nằm trong tay người Pháp hoặc người Hoa. Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này là sự phát triển không cân đối. Nền nông nghiệp nặng nề, lạc hậu; nền công nghiệp phụ thuộc, phân tán, quy mô nhỏ, nặng về khai khoáng; các ngành sản xuất luyện kim, cơ khí, năng lượng hầu như không được chú ý phát triển. Kinh tế miền Bắc và miền Nam phát triển hơn nhiều so với miền Trung, các vùng miền núi vẫn nghèo đói, lạc hậu, cuộc sống người dân vẫn phổ biến là du canh du cư.
Với thân phận nô lệ, nhân dân “một cổ hai tròng”, chịu cảnh sưu cao thuế nặng, cuộc sống lầm than, khổ cực. Thể chế chính trị thời kỳ này là thể chế thực dân nửa phong kiến. Thực dân Pháp nắm quyền thống trị đất nước ta, chúng chia Việt 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam thành ba kỳ nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc và dễ bề cai trị. Triều đình nhà Nguyễn mất hết thực quyền, chỉ là công cụ, tay sai của Pháp.
Nhƣ vậy, ở Việt Nam lúc này đang tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc - giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Pháp, và mâu thuẫn giai cấp - giữa nông dân với địa chủ, giữa công nhân với tƣ sản (chủ yếu là tƣ sản Pháp). Vấn đề đặt ra lúc này cho những người Việt Nam yêu nước là phải làm thế nào giải quyết đồng thời được hai mâu thuẫn trên, nghĩa là vừa đánh đuổi được quân xâm lược, giành lại độc lập dân tộc; vừa mang lại tự do hạnh phúc cho nhân dân. Trong phong trào yêu nước đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng và các cuộc vận động cách mạng. Phong trào yêu nước thời kỳ này đều hướng vào mục đích đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, nhưng lại khác nhau ở phương pháp và đường lối cách mạng, mà trong đó quan trọng nhất là xác định một mô hình thể chế chính trị cho Việt Nam sau khi đánh đổ chính quyền thực dân phong kiến.
Xu hướng tiếp tục khôi phục lại thể chế quân chủ phong kiến độc lập là sự lựa chọn của các sĩ phu lãnh đạo phong trào Cần Vương (1885 - 1896), Hoàng Hoa Thám… Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển, phong trào đã bị đàn áp và thất bại. Mô hình thể chế chính trị phong kiến đã trở nên lỗi thời, lạc hậu với trào lưu chung trên thế giới mà hiện thân là triều Nguyễn lúc bấy giờ - đã không thể tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân. Sự thất bại của phong trào Cần Vương báo hiệu kiểu nhà nước phong kiến đã hết vai trò lịch sử ở Việt Nam. Thời kỳ này, sự thức tỉnh châu Á cùng với phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở châu Âu đã ít nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam, làm xuất hiện những trào lưu tư tưởng mới và nảy sinh các phong trào yêu nước, cách mạng mang màu sắc mới, tiêu biểu là phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân… Một trong những đại biểu xuất sắc của trào lưu này là Phan Bội Châu.
Ông chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp, xây dựng ở Việt Nam một thể chế quân chủ lập hiến theo kiểu Nhật Bản (thời kỳ đầu), hoặc một thể chế cộng hòa dân chủ theo kiểu Tây Âu (thời kỳ sau). Còn Phan Chu Trinh phê phán gay gắt thể chế quân chủ chuyên chế, coi đó là nguyên nhân làm suy yếu dân tộc. Theo ông cần phải nâng cao dân trí, mở rộng dân 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền, hướng tới nền dân chủ theo kiểu phương Tây, trước hết là dựa vào Pháp. Mặc dù khuynh hướng dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, nhưng chưa phù hợp với thực tiễn lịch sử Việt Nam nên không thể thành công.
Vào cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX, Việt Nam Quốc dân Đảng - một chính đảng của giai cấp tư sản Việt Nam ra đời. Đảng này chủ trương đánh Pháp, xây dựng một thể chế chính trị cộng hòa theo kiểu tư bản chủ nghĩa.