Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng quan hệ lao động lành mạnh trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng xây dựng quan hệ lao động lành mạnh tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam Chương 3: Giải pháp tăng cường xây dựng quan hệ lao động lành mạnh tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG LÀNH MẠNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Quan hệ lao động Thuật ngữ “quan hệ lao động” xuất hiện từ những năm cuối của thế kỷ XIX. Vào thời kỳ đó quan hệ lao động thường chỉ được hiểu là quan hệ chủ-thợ.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển QHLĐ được coi là hệ thống quan hệ bao gồm nhiều quan hệ khác nhau trong xã hội, là phạm trù có nội hàm rộng vì nó phản ánh mối quan hệ xã hội đặc biệt. Mối quan hệ như vậy vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội lại vừa bị chi phối bởi quan hệ luật pháp. Vì vậy, khoa học về QHLĐ nằm trong vùng giao nhau của nhiều môn khoa học khác như: Luật pháp, kinh tế, xã hội, quản lý, tâm lý, chính trị… Hiện nay, định nghĩa về quan hệ lao động cũng có nhiều quan niệm khác nhau do cách tiếp cận khác nhau. Từ năm 1919 trở đi, với sự ra đời của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), quan hệ lao động không chỉ được thừa nhận ở cấp quốc gia mà còn được thừa nhận cả ở tầm quốc tế.
ILO đã đưa ra cách tiếp cận mới về quan hệ lao động- quan hệ ba bên, giữa Nhà nước, NSDLĐvà NLĐ, mỗi bên đều có vị trí, vai trò nhất định và có thể bình đẳng trong mối quan hệ này. Cụ thể là: “Quan hệ lao động hay quan hệ công nghiệp” (Labour relations, industrial relations) là “Những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những NLĐ và NSDLĐtại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện của họ với Nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội, tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như tuyển dụng, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật” [17, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng có những khái niệm khác nhau về quan hệ lao động.
Nguyễn Tiệp (2008) cho rằng: "QHLĐ là hệ thống các mối quan hệ giữa các cá nhân hay tổ chức đại diện của NLĐ với các cá nhân hay tổ chức đại diện của NSDLĐ hoặc giữa các tổ chức đại diện của họ với Nhà nước và các chủ thể khác. Những mối quan hệ này diễn ra xoay quanh quá trình thuê mướn lao ñộng (Giữa NSDLĐ và NLĐ) nhằm đảm bảo sự hài hoà và ổn Định về lợi ích của các bên liên quan"[29] Nguyễn Duy Phúc (2012) cho rằng: “QHLĐ là hệ thống những mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ tại nơi làm việc hay giữa những tổ chức đại diện của họ với nhau và với nhà nước. Những mối quan hệ như vậy bị chi phối bởi lợi ích xoay quanh những vấn đề phát sinh từ hoạt động thuê mướn lao động” [23, tr. Năm 2019, Bộ luật Lao động mới được Quốc hội thông qua, theo đó quan hệ lao động được khẳng định: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể” [24]. Như vậy, Bộ luật Lao động 2019 đã làm rõ hơn quan hệ lao động là mối quan hệ giữa ba chủ thể bao gồm: Những NLĐ (và đại diện của họ), những NSDLĐ(đại diện của họ) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Với cách tiếp cận như vậy, quan hệ lao động được hiểu là một hệ thống mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến quyền, lợi ích của các bên trong quá trình lao động. Tóm lại, hiện tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về QHLĐ.
Sự khác nhau này là do cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, tác giả thấy có những điểm chung là: - QHLĐ là hệ thống mối quan hệ, được thiết lập ở các cấp độ kinh tế khác nhau, bao gồm mối quan hệ lao động cá nhân và mối quan hệ lao động tập thể. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 - Những NLĐ (và đại diện của họ), những NSDLĐ(và đại diện của họ) và Nhà nước (chính phủ và chính quyền các cấp) là ba chủ thể của quan hệ lao động. - Nội dung quan hệ lao động xoay quanh các vấn đề về quyền lợi trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương, điều kiện an toàn vệ sinh lao động, vấn đề năng suất lao động, sức cạnh tranh doanh nghiệp, sự ổn định hòa bình xã hội, sức cạnh tranh nền kinh tế.
Quan hệ lao động trong doanh nghiệp Như đề cập ở phần trên, QHLĐ được thiết lập ở các cấp độ kinh tế khác nhau. Chẳng hạn như cấp quốc gia, cấp ngành nghề, cấp địa phương (tỉnh thành phố) và cấp cơ sở (doanh nghiệp). Doanh nghiệp là nơi diễn ra quan hệ thuê mướn lao động của người sử dụng lao động, là nơi làm việc của NLĐ. Do vậy, doanh nghiệp là nơi phát sinh nhiều vấn đề của QHLĐ.
QHLĐ trong doanh nghiệp có thể là quan hệ lao động cá nhân hay quan hệ lao động tập thể. Chủ thể QHLĐ trong doanh nghiệp bao gồm NLĐ (và tổ chức đại diện của họ) và NSDLĐ. Có thể hiểu: "QHLĐ tại doanh nghiệp là tổng hoà những mối quan hệ giữa NLĐ (hoặc đại diện của họ) với NSDLĐ. Những mối quan hệ này thường xoay quanh các điều kiện lao động đặc thù của doanh nghiệp như cách trả lương, phụ cấp, trợ cấp, thời gian làm thêm giờ, điều kiện vệ sinh an toàn nơi làm việc, thủ tục giải quyết bất bình, kỷ luật sa thải, vấn đề năng xuất lao động, doanh thu của doanh nghiệp…".
Quan hệ lao động lành mạnh trong doanh nghiệp Theo ILO, một hệ thống quan hệ lao động lành mạnh là hệ thống mà trong đó, mối quan hệ giữa NLĐ và nhà quản lý (cũng như đại diện của họ): quan hệ giữa hai bên (NLĐ và nhà quản lý) với nhà nước có khuynh hướng hài hòa và hợp tác hơn là xung khắc và tạo ra được môi trường sản xuất kinh doanh phát triển và hiệu quả kinh tế, có động lực, năng xuất, cải thiện được cho NLĐ về các nội dung quan hệ lao động, từ đó tạo ra sự trung thành của NLĐ và sự tin tưởng lẫn nhau trong doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Theo Vũ Hoàng Ngân - Vũ Thị Uyên (2016): QHLĐ lành mạnh được hiểu là trạng thái của QHLĐ, trong đó có sự cân bằng, phát triển về lợi ích, sự tôn trọng, hỗ trợ và hợp tác. Ở đó không có vấn đề về lao động trẻ em, lao động cưỡng bức không có tình trạng phân biệt đối xử, NLĐ được trả lương hợp lý, đảm bảo an toàn sức khỏe, được tự do liên kết và thương lượng.ở đó NLĐ tự giác làm việc, tôn trọng lợi ích chung. QHLĐ lành mạnh trong doanh nghiệp, chính là mối quan hệ giữa NLĐ (và đại diện của họ) với NSDLĐtrước hết trên cơ sở hợp tác, tôn trọng lẫn nhau, sự đồng thuận, đối thoại, thương lượng, sự bình đẳng về những lợi ích của các bên, do vậy xuất hiện lòng tin tưởng và cùng nhau thúc đẩy hoạt động sản xuất, giảm thiểu tranh chấp, mâu thuẫn và đình công.
Những nguyên tắc của QHLĐ lành mạnh bao gồm: - Sự bình đẳng, tôn trọng nhau trong quá trình đối thoại, thương lượng tập thể; - Tính trung thực về quyền và lợi ích các bên - Không đòi hỏi chiến thắng trong các cuộc đối thoại, thương lượng (không có bên nào giành chiến thắng hay thua) - Khi giải quyết tranh chấp lao động cần phải dựa vào pháp luật. - Thông qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của nhau. - Công đoàn, tổ chức đại diện NSDLĐ cùng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tạo điều kiện xây dựng QHLĐ lành mạnh, tiến hành kiểm tra giám sát việc chấp hành quy định của luật lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ và NSDLĐ. - Các bên tự do trong ký kết hợp đồng lao động, những không được trái với quy định pháp luật, trái với thỏa ước lao động tập thể và các quy định khác có liên quan.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Xây dựng quan hệ lao động lành mạnh trong doanh nghiệp Theo từ điển tiếng Việt “xây dựng là làm nên một công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định; là tạo ra, sáng tạo ra cái có giá trị” [15, tr. Từ khái niệm trên cho thấy xây dựng là các hoạt động của con người nhằm tạo ra công trình hay cái có giá trị theo kế hoạch đã định ra. Cho đến nay chưa có văn bản nào chính thức khẳng định thống nhất khái niệm xây dựng quan hệ lao động lành mạnh trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên trên cơ sở khái niệm QHLĐ; QHLĐ lành mạnh; khái niệm xây dựng, ta có thể đưa ra khái niệm về “xây dựng quan hệ lao động lành mạnh trong doanh nghiệp” như sau: Xây dựng quan hệ lao động lành mạnh trong doanh nghiệp là quá trình lựa chọn, sáng tạo các phương thức hoạt động phù hợp, thiết thực khi vận hành quan hệ lao động nhằm đạt được sự hài hòa về lợi ích, sự tôn trọng, hỗ trợ, hợp tác lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ giữa các bên tham gia quan hệ lao động (người sử dụng lao động, NLĐ và tổ chức đại diện NLĐ) và cùng hợp tác phấn đấu vì lợi ích chung, vì sự phát triển của doanh nghiệp. Xây dựng được một quan hệ lao động lành mạnh luôn là mục tiêu của mọi tổ chức, nhất là trong nền kinh tế thị trường, khi mà NLĐ và NSDLĐ đều muốn tăng lợi ích. Và chính điều này sẽ dẫn đến ngăn ngừa đình công hay những khiếu kiện, tranh chấp xảy ra do mâu thuẫn giữa NSDLĐ và NLĐ.