Chương 1: Cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chương 2: Khái quát về thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Chương 3: Những kiến nghị về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI 1.
Sự hình thành và nội dung tƣ tƣởng Nhà nƣớc pháp quyền ở phƣơng Tây Sự hình thành của tư tưởng về nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ, loại trừ chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô pháp luật. Lịch sử tư tưởng Nhà nước pháp quyền là lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng về sự hợp lý và sự công bằng của việc tổ chức một hình thức chính trị hợp lý của đời sống xã hội. Khái niệm "Nhà nước pháp quyền’ được các học giả phương Tây đưa ra từ thế kỷ XVIII - XIX nhằm chống lại sự nhà nước chuyên chế, độc đoán, chuyên quyền. Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử phát triển nhân loại.
Từ thời cổ đại người ta đã tìm kiếm các nguyên tắc, hình thức và cơ cấu để thiết lập mối quan hệ qua lại, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tác động qua lại, hài hòa giữa pháp luật và quyền lực. Quyền lực muốn trở thành sức mạnh thực tế phải dựa vào pháp luật, đồng thời lại bị ràng buộc bởi pháp luật. Vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, nhà thông thái Solon (638 - 559 TCN) đã diễn đạt tư tưởng của mình: "Ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật" và đã đưa ra những quy chế, những nguyên tắc tổ chức nhà nước, mong sao có sự nhượng bộ cho nhân dân, hạn chế những đặc quyền, đặc lợi của giới quý tộc. Aristote (384 - 322 TCN) đã đồng tình với tư tưởng của Solon, đề cao vai trò của pháp luật tự nhiên trong việc tạo ra sự công bằng trong xã hội.
Các 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tư tưởng gia thời cổ đại như Heraclite (530 - 470 TCN), Platon (427 - 347 TCN) cũng có quan điểm đề cao vai trò của pháp luật, coi luật có tính tối cao. Vào thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến lên chế độ tư bản, những quan niệm mới về nhà nước pháp quyền đều có ý nghĩa quan trọng là những vấn đề về quyền lực chính trị dưới hình thức phân quyền phù hợp với tương quan mới của lực lượng chính trị, xã hội, giai cấp, đồng thời loại trừ khả năng độc quyền hóa trong tay một người hay một cơ quan. Nhà tư tưởng người Anh là J. Locke (1632 - 1704) là người đầu tiên khởi thảo ra thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về học thuyết phân quyền, được thể hiện trong tác phẩm "Khởi thảo thứ hai về chính quyền".
Về quyền lực nhà nước, ông cho rằng "chỉ có thể có một quyền lực tối cao, là cơ quan lập pháp, mà tất cả các quyền lực còn lại là, và phải là những cái phụ thuộc vào nó". Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước và phải thuộc về nghị viện; nghị viện phải họp định kỳ thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng. Quyền hành pháp phải thuộc về nhà vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các chức vị, chánh án và các quan chức khác.
Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào với nghị viện nhằm không cho phép vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công dân. Nhà vua thực hiện quyền liên minh, tức là giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại. Những luận điểm phân quyền của J. Locke đã được nhà khai sáng người Pháp, C.Montesquieu (1698 - 1755) phát triển.
Ông đã phát triển một cách toàn diện thông qua học thuyết phân quyền. Ông nhận thấy pháp luật gồm nhiều lĩnh vực, phân ngành rõ rệt, cho nên tập trung vào một người duy nhất là trái với bản chất của nó; gắn với bản chất chế độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền. Vì vậy việc thanh toán hiện tượng lạm quyền chỉ có thể là đồng thời, là sự thanh toán chế độ chuyên chế. Trong tác phẩm "Tinh thần pháp luật", ông đã lập luận tinh tế và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách bạch 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các nhánh quyền lực và khẳng định: "Trong bất cứ quốc gia nào đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự".
Từ đó ông chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây hại cho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có sức mạnh của kẻ đàn áp.
Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết. Theo quan niệm của phương Tây, Nhà nước pháp quyền là khái niệm đồng hành với khái niệm xã hội công dân, khi nói về lịch sử tư tưởng Nhà nước chúng ta không thể không đề cập lịch sử tư tưởng xã hội công dân. Cơ sở của xã hội công dân chính là tư tưởng của khế ước xã hội - tư tưởng của Rousseau (1712-1778) được trình bày rõ trong tác phẩm "Bàn về Khế ước xã hội", ông chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức toàn thể công dân trong xã hội. Nhưng ông lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền.
Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước thì phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực nhà nước. Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trung quyền lực, mà là phân chia nó ra. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong lịch sử tư tưởng về Nhà nước pháp quyền phương Tây người ta cũng thường gắn những dấu hiệu của nhà nước pháp quyền với quan niệm phân quyền. Quan niệm về phân chia quyền lực trong xã hội: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp.
Để tránh lạm quyền, ba quyền đó cần giao cho ba cơ quan khác nhau, có khả năng kiềm chế lẫn nhau, đó là điều kiện chủ yếu để bảo đảm tự do chính trị trong Nhà nước. Kant (1724 - 1804) cho rằng Nhà nước là tổ chức chính trị của xã hội - một xã hội dân sự trong đó, mọi người đều phải phục tùng ý chí chung được thể hiện dưới hình thức đạo luật và đạo luật đó phù hợp với pháp luật tự nhiên. Theo Hêghen (1770 - 1831), pháp luật là tư tưởng tự do còn nhà nước cũng chính là pháp luật, pháp luật cụ thể, có nội dung phong phú và là toàn bộ hệ thống pháp luật, một hệ thống bao hàm việc thừa nhận mọi quyền khác - quyền của cá nhân, của gia đình và của xã hội. Ông đặt Nhà nước lên trên hết, trên xã hội và trên cá nhân và đề cao tính tối cao của luật, bởi vì luật của Nhà nước chính là sự thể hiện cụ thể của pháp luật tự nhiên.
Nhà triết học Heraclit (530 - 470 TCN) thể hiện quan điểm cần phải kính trọng pháp luật của ông trong tuyên bố: "Người dân cần phải chiến đấu bảo vệ cho pháp luật, như bảo vệ ngôi nhà của mình" [20]. Nếu như tư tưởng nhà nước pháp quyền hình thành từ thời cổ đại, thì thuật ngữ "Nhà nước pháp quyền" chỉ xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIX ở Đức. Các luật gia người Đức Rôbec phônmôhn, Cac Têôđô Vanke là những người đầu tiên dùng thuật ngữ "Nhà nước pháp quyền". Các luật gia Đức đã đề ra nguyên tắc về tính tối cao của luật như tiêu chuẩn quan trọng nhất của nhà nước pháp quyền.
Đó chính là sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật, tức là thừa nhận mục đích sống còn của tất cả mọi người không phụ thuộc vào địa vị của họ, sự áp dụng các quy phạm chung phải thực sự khách quan. Mục tiêu quan trọng hơn cả của nhà nước pháp quyền là: Làm thế nào để tổ chức được đời sống chung của nhân dân sao cho mỗi thành viên trong 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó nhận được sự giúp đỡ và khuyến khích sự phát triển tự do tối đa và hoàn thiện năng lực tổng hợp của mình. Sự hình thành và nội dung tƣ tƣởng Nhà nƣớc pháp quyền ở phƣơng Đông Trong lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới cũng đã tồn tại một loại hình tư tưởng gần với nhà nước pháp quyền, đó là nhà nước pháp trị, đối lập là đức trị. Những tư tưởng của loại hình Nhà nước này được sinh ra ở phương Đông trong thời kỳ Nhà nước Trung Quốc cổ đại.
Nhà tư tưởng lớn nhất thời Trung Quốc cổ đại - Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã xây dựng một học thuyết Nho giáo với nội dung đức trị. Sau đó được Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư và các đồ đệ khác bổ sung hoàn chỉnh. Đạo Khổng đề cao "Nhân" và "Lễ", nghĩa là lấy nhân ái mà trị quốc và khuyên dạy người ta làm những điều hợp với lễ nghĩa, cư xử đúng đạo lý trong các quan hệ vua, tôi, cha con, vợ chồng.