Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đã đưa Việt Nam từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu tất yếu phải đổi mới tương ứng trong kiến trúc thượng tầng, trọng tâm là cải cách và hoàn thiện Nhà nước. Bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tiễn đổi mới cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp: phân hóa giàu nghèo gia tăng, tham nhũng và tệ nạn xã hội chậm được đẩy lùi, tình trạng vi phạm dân chủ ở cơ sở, cùng nguy cơ tha hóa quyền lực của bộ máy hành chính nếu thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ bằng pháp luật.

Trước yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trở thành chủ trương chiến lược bao trùm. Khóa luận tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với tiến trình này trong giai đoạn bản lề 1986 - 2001.

Mục đích nghiên cứu của đề tài:

  1. Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2001).
  2. Luận chứng cho tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như một điều kiện không thể thiếu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát lịch sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại và tư tưởng về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
  2. Phân tích tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đường lối đổi mới của Đảng.
  3. Làm rõ các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đề xuất các phương hướng cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đường lối, chủ trương và quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1986 - 2001 (từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng).
  • Phạm vi không gian: Hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai dựa trên hệ thống cơ sở lý luận chính trị - pháp lý và phương pháp luận chuyên ngành:

  • Khung lý thuyết và quan điểm nền tảng:

    • Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, chế độ dân chủ vô sản, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và sự tham gia của quần chúng lao động vào quản lý nhà nước.
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ kiểu mới "của dân, do dân, vì dân", tư tưởng pháp quyền nhân văn ("trăm điều phải có thần linh pháp quyền"), sự kết hợp giữa quản lý bằng pháp luật và giáo dục đạo đức.
    • Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Văn kiện các Đại hội VI, VII, VIII, IX; các Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương (đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII năm 1995 về cải cách hành chính nhà nước, và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII năm 1997 về phát huy quyền làm chủ của nhân dân và chiến lược cán bộ).
    • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét sự hình thành tư tưởng và đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền trong sự vận động gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
    • Phương pháp lịch sử - logic: Tái hiện tiến trình nhận thức và hoạch định đường lối của Đảng qua các kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương theo trình tự thời gian, đồng thời khái quát thành các luận điểm lý luận có tính quy luật.
    • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Phân tích nội dung các văn kiện, so sánh các mô hình tư tưởng pháp quyền phương Đông, phương Tây và mô hình xã hội chủ nghĩa.
  • Nguồn dữ liệu: Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin; Hồ Chí Minh toàn tập; các tập Văn kiện Đảng; các bài viết, phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước (như Tổng Bí thư Đỗ Mười); cùng các công trình nghiên cứu chuyên khảo đã công bố của các tác giả: Phan Gia Đức, Đỗ Nguyên Phương, Lê Minh Quân, Nguyễn Ngọc Minh đăng trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Triết học.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát lịch sử tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với sự phát triển của xã hội

Chương này trình bày có hệ thống nguồn gốc, quá trình tiến hóa của tư tưởng nhà nước pháp quyền từ cổ đại đến hiện đại qua hai nhánh văn minh phương Đông, phương Tây, và bước chuyển chất lượng sang tư tưởng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

  • Tư tưởng nhà nước và pháp luật ở phương Đông: Do gắn liền với công xã nông thôn và phương thức sản xuất châu Á, các nhà nước phương Đông cổ đại (Ai Cập, Babilon, Ấn Độ, Trung Quốc) hình thành sớm dưới dạng quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền. Văn bản phân tích Bộ luật Hammurapi (Babilon, khoảng 1792 - 1750 TCN) như một trong những bộ luật thành văn cổ nhất nhằm bảo vệ sở hữu và xác lập trật tự cai trị. Tại Trung Quốc thời cổ đại, cuộc tranh luận giữa các trường phái (Đức trị của Nho gia và Pháp trị của Pháp gia) diễn ra sâu sắc. Hàn Phi (280 - 230 TCN) đã đưa tư tưởng pháp trị lên đỉnh cao với quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa "Pháp" (luật lệ công khai, bình đẳng trước pháp luật không trừ bậc đại phu), "Thế" (quyền uy của đấng quân vương) và "Thuật" (phương pháp bổ nhiệm, kiểm tra, thưởng phạt của người cai trị). Tuy nhiên, tư tưởng pháp quyền phương Đông cổ đại bị giới hạn bởi thế giới quan duy tâm, siêu hình và phục vụ cho sự thống trị tuyệt đối của hoàng quyền.

  • Tư tưởng nhà nước pháp quyền ở phương Tây: Khởi nguồn từ nền dân chủ chủ nô Hy Lạp và La Mã cổ đại (với các thiết chế dân chủ Aten, Spácta và hệ thống Luật La Mã đồ sộ), tư tưởng này phát triển mạnh mẽ vào thời kỳ Phục hưng và Khai sáng (thế kỷ XVII - XVIII) nhằm chống lại chế độ phong kiến chuyên chế. Montesquieu (1689 - 1755) đã hoàn thiện học thuyết phân chia quyền lực (tam quyền phân lập: lập pháp giao cho Nghị viện, hành pháp giao cho Chính phủ/Vua, tư pháp giao cho Tòa án độc lập) nhằm dùng quyền lực để kiềm chế, kiểm soát quyền lực, bảo vệ tự do công dân. Khóa luận chỉ rõ: Nhà nước pháp quyền tư sản là một bước tiến lịch sử nhưng mang bản chất giai cấp tư sản, thực chất là sự thống trị của thiểu số đối với đa số nhân dân lao động.

  • Tư tưởng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa:

    • Quan điểm Mác - Lênin: Đặt nền tảng cho kiểu nhà nước mới hướng đến giải phóng con người, trong đó "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người". V.I. Lênin phát triển lý luận về nhà nước nửa nhà nước, nhấn mạnh quyền dân chủ rộng rãi của nhân dân lao động thông qua các nguyên tắc: quyền bầu cử phổ thông, quyền tham gia quản lý nhà nước và quyền bãi miễn đại biểu, đồng thời xác lập nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và sáng lập Viện Kiểm sát nhằm giám sát tính thống nhất của pháp luật.
    • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sớm hình thành từ bản Yêu sách của nhân dân An Nam (1919) với yêu cầu "thay thế chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật" và diễn đạt trong Việt Nam yêu cầu ca: "Bảy xin Hiến pháp ban hành / Trăm điều phải có thần linh pháp quyền". Tư tưởng của Người khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân ("Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân"), xây dựng nhà nước hợp hiến thông qua Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 và ban hành Hiến pháp 1946, 1959. Người chủ trương xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ kết hợp chặt chẽ với giáo dục đạo đức truyền thống.
Tiêu chí Nhà nước pháp quyền tư sản Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Bản chất giai cấp & Chủ thể quyền lực Đại diện cho giai cấp tư sản; bảo vệ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc; quyền lực thuộc về toàn thể nhân dân lao động.
Nguyên tắc tổ chức quyền lực Tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập và kiềm chế, đối trọng nhau). Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Cơ chế lãnh đạo chính trị Cạnh tranh đa nguyên, đa đảng của giai cấp tư sản. Đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục tiêu tối thượng Bảo vệ tự do tư sản, trật tự thị trường tự do. Giải phóng con người, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Chương 2: Quá trình hình thành và phát triển đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng thời kỳ đổi mới (1986 - 2001)

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích các chặng đường phát triển nhận thức lý luận của Đảng, xác định hệ thống đặc trưng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện bộ máy nhà nước cùng đội ngũ cán bộ công chức.

  • Tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam:

    • Xuất phát từ yêu cầu quản lý nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN bằng công cụ pháp luật thay vì các mệnh lệnh hành chính chủ quan.
    • Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm thực chất quyền làm chủ của nhân dân và phòng chống nguy cơ tha hóa quyền lực, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước.
  • Tiến trình phát triển đường lối qua các văn kiện Đảng (1986 - 2001):

    • Đại hội VI (1986): Khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, đề ra chủ trương cải cách bộ máy nhà nước, chuyển chức năng quản lý sang thể chế hóa bằng pháp luật.
    • Đại hội VII và Cương lĩnh năm 1991: Xác định xây dựng nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là phương hướng cơ bản; thông qua Hiến pháp năm 1992 xác lập cơ sở pháp lý cho tổ chức bộ máy.
    • Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994): Lần đầu tiên Đảng chính thức đưa thuật ngữ "Nhà nước pháp quyền Việt Nam" vào văn kiện và xác định mục tiêu xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng.
    • Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (1995): Ra nghị quyết chuyên đề về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, xác định trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước.
    • Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII (1997): Khẳng định việc từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; chỉ ra các khuyết điểm trong công tác cán bộ.
    • Đại hội IX (2001): Khái quát hoàn chỉnh đường lối, xác định "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng" là nhiệm vụ số một, chỉ phối việc cải cách thể chế, nâng cao năng lực cán bộ và phòng chống tham nhũng.
  • 6 đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam:

    1. Là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
    2. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
    3. Tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính tối cao của pháp luật trong đời sống xã hội.
    4. Tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ.
    5. Đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    6. Là một nhà nước hiện đại, khoa học, có nền hành chính trong sạch, tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả.
  • Phương hướng cơ bản xây dựng và hoàn thiện Nhà nước:

    • Đổi mới Quốc hội: Tăng cường tính chuyên nghiệp trong công tác lập hiến, lập pháp; nâng cao tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách; củng cố các Ủy ban, Hội đồng chuyên môn; xây dựng chiến lược làm luật dài hạn từ 5 đến 15 năm; nâng cao chất lượng hoạt động giám sát tối cao và chất vấn tại nghị trường.
    • Cải cách Chính phủ và nền hành chính: Tinh gọn bộ máy, chuyển trọng tâm hoạt động sang hoạch định chính sách, xây dựng thể chế và điều hành vĩ mô; phân cấp rành mạch giữa Trung ương và địa phương; cải cách thủ tục hành chính nhằm loại bỏ cơ chế cửa quyền, phục vụ nhân dân.
    • Cải cách các cơ quan tư pháp: Xây dựng hệ thống Tòa án độc lập khi xét xử và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án cấp trên không can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới; điều chỉnh chức năng của Viện Kiểm sát tập trung vào thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, chuyển giao chức năng kiểm sát thi hành pháp luật chung sang cơ quan thanh tra thuộc Chính phủ; củng cố các cơ quan điều tra, thi hành án và bổ trợ tư pháp.
    • Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức: Chuẩn hóa chức danh và chế độ công vụ; đổi mới căn bản công tác quy hoạch, đào tạo, đánh giá và luân chuyển cán bộ; khắc phục triệt để tình trạng vừa thừa vừa thiếu, suy thoái đạo đức, tham nhũng; bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng kết và luận giải các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Hệ thống hóa tiến trình lịch sử nhận thức: Khóa luận chứng minh rõ bước chuyển nhận thức mang tính bước ngoặt của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các văn kiện từ Đại hội VI đến Đại hội IX. Điểm nhấn lịch sử là dấu mốc Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) khi thuật ngữ "Nhà nước pháp quyền" lần đầu tiên được chính thức sử dụng, và đến Đại hội IX (năm 2001) được xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu.
  • Xác lập hệ thống 6 đặc trưng bản chất: Đã tổng hợp và làm rõ tính đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phân biệt rõ nguyên tắc "quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công và phối hợp" với nguyên tắc "tam quyền phân lập đối trọng" của nhà nước pháp quyền tư sản.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
    • Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của ba nhánh quyền lực (lập pháp tại Quốc hội, hành pháp tại Chính phủ, tư pháp tại Tòa án và Viện Kiểm sát).
    • Đề xuất các căn cứ khoa học cho chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, gắn vị trí việc làm với cơ cấu tổ chức bộ máy.
  • Đóng góp học thuật tự nêu: Tác giả đã kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu đi trước để xây dựng một công trình có tính hệ thống về lịch sử tư tưởng và đường lối của Đảng đối với vấn đề nhà nước pháp quyền; góp phần bổ sung luận cứ lý luận và thực tiễn cho công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng và Giáo dục chính trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài dừng lại ở năm 2001 (thời điểm Đại hội IX của Đảng), do đó chưa phản ánh được các bước phát triển nhận thức và sửa đổi thể chế pháp lý trong giai đoạn sau (như Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp, và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013).
    • Nguồn tư liệu chủ yếu tập trung vào các văn kiện chính trị, đường lối của Đảng và các tài liệu thứ cấp; mức độ khảo sát thực chứng bằng số liệu thống kê tư pháp và hành chính thực tế tại các địa phương còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phân tích việc triển khai đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
    • Nghiên cứu sâu về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, quy trình giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân, cũng như quá trình hiện đại hóa nền công vụ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Hành chính học.
  • Người làm công tác nghiên cứu lý luận chính trị: Cung cấp tài liệu tra cứu có hệ thống về sự tiến hóa của khái niệm "Nhà nước pháp quyền" trong các kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương của Đảng thời kỳ đầu đổi mới (1986 - 2001).
  • Phần đáng tham khảo nhất:
    • Mục 1.1 và 1.2 thuộc Chương 1: Phần tổng hợp, so sánh súc tích về lịch sử tư tưởng pháp quyền phương Đông (Pháp trị Hàn Phi), phương Tây (Montesquieu) và tư tưởng Hồ Chí Minh.
    • Mục 2.1 thuộc Chương 2: Phần phân tích chi tiết quá trình Đảng từng bước thể chế hóa quan điểm nhà nước pháp quyền qua từng văn kiện lịch sử cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ "Nhà nước pháp quyền" lần đầu tiên được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức sử dụng trong văn kiện nào?
Thuật ngữ này lần đầu tiên được chính thức đưa vào văn kiện Đảng tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 01/1994), trong đó xác định nhiệm vụ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

2. Nguyên tắc tổ chức quyền lực trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khác gì so với mô hình tam quyền phân lập tư sản?
Trong mô hình tư sản, ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập tuyệt đối, kiềm chế và đối trọng lẫn nhau. Ngược lại, trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất (thuộc về nhân dân), không phân chia mà có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng.

3. Khóa luận nêu những phương hướng trọng tâm nào nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội?
Khóa luận nhấn mạnh: nâng cao tính chuyên nghiệp của cơ quan lập hiến, lập pháp; tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách; củng cố các Ủy ban, Hội đồng chuyên môn; xây dựng chiến lược làm luật dài hạn từ 5 đến 15 năm; nâng cao chất lượng hoạt động giám sát tối cao, tranh luận và chất vấn tại các kỳ họp.

4. Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) năm 1997 đã chỉ ra những yếu kém, hạn chế nào của đội ngũ cán bộ?
Văn kiện Hội nghị chỉ ra: một số cán bộ giảm sút niềm tin, dao động; một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất, quan liêu, tham nhũng, lãng phí của công; cơ cấu đội ngũ cán bộ không đồng bộ, "vừa thừa vừa thiếu"; trình độ năng lực quản lý kinh tế thị trường còn hạn chế; công tác quy hoạch, đào tạo và bổ nhiệm cán bộ nhiều nơi còn chủ quan, chắp vá, thiếu chiến lược lâu dài.

5. Điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức được tác giả làm rõ như thế nào?
Tác giả phân tích rằng xã hội là thực thể phức tạp, đa diện nên không thể tuyệt đối hóa một công cụ quản lý duy nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh đề cao tính nghiêm minh của pháp luật dân chủ ("thần linh pháp quyền"), đồng thời đòi hỏi phải kết hợp nhuần nhuyễn với giáo dục đạo đức, tình thương và sự khoan dung truyền thống của dân tộc để đạt hiệu quả quản lý xã hội cao nhất.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tống Thị Hạnh đã khái quát toàn diện lịch sử tư tưởng nhà nước pháp quyền và luận giải sâu sắc tính tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Công trình làm sáng tỏ tiến trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2001, xác định hệ thống 6 đặc trưng cơ bản của mô hình nhà nước kiểu mới và đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy, phát triển đội ngũ công chức. Đây là một tài liệu học thuật có giá trị tham khảo tốt cho việc nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Giáo dục Chính trị và Lịch sử Đảng.