phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xây dựng môi trƣờng học tập tích cực cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng về môi trƣờng học tập của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở trƣờng Chính trị tỉnh Điện Biên. Chƣơng 3: Biện pháp xây dựng môi trƣờng học tập tích cực cho học viên là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở trƣờng Chính trị tỉnh Điện Biên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG HỌC TẬP TÍCH CỰC CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Môi trƣờng là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất quan hệ với nhau bao quanh con ngƣời và có ảnh hƣởng đến đời sống sản xuất sự tồn tại và phát triển của con ngƣời.
Chính sự ảnh hƣởng đó đã là tâm điểm để thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Nghiên cứu về ảnh hƣởng của môi trƣờng đến năng suất lao động các nhà tâm lý học lao động đã tập trung nghiên cứu môi trƣờng vi mô, những điều kiện nhƣ: nhiệt độ, màu sắc âm thanh, khung cảnh…. Từ đó giúp cho việc quản lý môi trƣờng vi mô, tổ chức quản lý để đạt năng suất cao nhất. Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu các nhà giáo dục học cũng chỉ ra rằng môi trƣờng có ảnh hƣởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời.
Nhà tâm lý học Mỹ Kenloc (1923) đã nuôi trong cùng môi trƣờng một con khỉ 10 tháng tuổi và cậu con trai 8 tháng tuổi của mình để so sánh ảnh hƣởng của môi trƣờng đến con khỉ và con ngƣời. Nhƣng tác động của môi trƣờng sống của con ngƣời không làm thay đổi bản chất dã thú của con vật. Ngƣợc lại môi trƣờng của loài vật có thể tác động mạnh mẽ vào bản chất ngƣời của con ngƣời. Nhà xã hội học Mỹ R.E Pác cơ đã nói “ngƣời không đẻ ra ngƣời, đứa trẻ chỉ trở lên ngƣời trong quá trình giáo dục”.
Điều này khẳng định yếu tố môi trƣờng văn hóa và môi trƣờng giáo dục có vai trò quyết định đối với sự hình thành phát triển nhân cách con ngƣời. Cuối thế kỷ XIX, nhiều nhà tâm lý học của Mỹ, Nga nhƣ: I. Encônhin với các công trình nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hƣởng rất quan trọng của môi trƣờng đến sự hình thành nhân cách cá nhân. Những kết quả nghiên cứu có hệ thống đó đã dần hình thành một chuyên ngành tâm lý học mới - Tâm lý học môi trƣờng.
Trên cơ sở đó các nhà tâm lý học đã nghiên cứu, xây dựng môi trƣờng với mục đích tạo ảnh hƣởng tốt nhất đến dạy học và giáo dục nhân cách thế hệ trẻ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Về môi trƣờng dạy - học, trƣớc hết phải kể đến những nghiên cứu của hai nhà tâm lý học ngƣời Nga là I.V Pavlov nghiên cứu sự hình thành phản xạ có điều kiện trong môi trƣờng đƣợc kiểm soát chặt chẽ, con vật (con chó) hoàn toàn thụ động. Skinnơ nghiên cứu sự hình thành phản xạ tạo tác môi trƣờng gần với thực tế hơn; co vật (chuột, bồ câu) chủ động trong hành vi đáp ứng trên cơ sở nhu cầu của nó. Từ kết quả nghiên cứu của hai ông, các nhà giáo dục học đã nhận thức đƣợc một vấn đề rất quan trọng rằng: Yếu tố môi trƣờng trong giáo dục không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời mà quan trọng hơn là yếu tố môi trƣờng thực tế đã kích thích chủ thể hoạt động năng động và sáng tạo hơn.
Việc tạo lập, xây dựng và phát triển môi trƣờng là một nhiệm vụ quan trọng của khoa học giáo dục hiện đại. Nghiên cứu về môi trƣờng tâm lý - xã hội của nhóm (lớp học, khối, trƣờng), Jean - Marc Denomme và Madeleine Roy đã có công trình nghiên cứu về phƣơng pháp sƣ phạm tƣơng tác. Tác giả coi môi trƣờng là yếu tố tham gia trực tiếp đến quá trình dạy học chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra hoạt động học. Trên cơ sở đó các tác giả đã nhấn mạnh đến một quy luật quan trọng: Môi trƣờng ảnh hƣởng đến ngƣời dạy, ngƣời học; ngƣời học và ngƣời dạy phải thích nghi với môi trƣờng.
Emile Durkheim một nhà xã hội học ngƣời Pháp quan niệm môi trƣờng học đƣờng bao gồm cả lớp học và việc tổ chức lớp học, nhƣ một sự kết nối có phạm vi rộng hơn gia đình và không trừu tƣợng nhƣ xã hội. Một lớp học không đơn thuần chỉ là một khối kết dính các cá nhân độc lập với nhau mà còn là một xã hội thu nhỏ. Trong lớp học, học sinh suy nghĩ hành động và cảm nhận khác với khi chúng tách rời nhau. Ở Việt Nam vấn đề môi trƣờng giáo dục cũng rất đƣợc quan tâm, từ xƣa vai trò của môi trƣờng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con ngƣời đã đƣợc ông cha ta đúc kết bằng những câu ca dao tục ngữ nhƣ: “Gần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ mực thì đen, gần đèn thì rạng”; “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”… Khi khoa học giáo dục phát triển các nhà giáo dục học và giáo dục Việt Nam lại đặc biệt chú trọng đến môi trƣờng sinh thái, môi trƣờng của nhà trƣờng phổ thông.
Chẳng hạn nhƣ xây dựng môi trƣờng xanh, sạch, đẹp; môi trƣờng giao tiếp có văn hóa trong nhà trƣờng phổ thông, kết hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và xã hội để tạo môi trƣờng tốt đẹp trong giáo dục học sinh. Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nƣớc ta rất quan tâm đến vấn đề xây dựng môi trƣờng học tập ở các cấp học, bậc học nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục. Xây dựng trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực theo Chỉ thị số 40/CT-BGD&ĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trở thành một phong trào rộng khắp có sức lan tỏa lớn trong toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam và từ đó đã làm thay đổi căn bản nhận thức của ngƣời dạy và ngƣời học về vấn đề môi trƣờng học tập. Xây dựng môi trƣờng học tập là vấn đề đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu ở những mức độ khác nhau.
Tác giả luận văn đã tham khảo một số công trình khoa học nhƣ: “Về môi trƣờng học tập trong lớp” của tác giả Vũ Thị Sơn; “Thiết kế bài học nhằm tích cực hóa học tập” của tác giả Đặng Thành Hƣng; “Môi trƣờng giáo dục” của tác giả Phạm Hồng Quang;… Tuy nhiên những công trình nghiên cứu đó chỉ đƣợc đề cập ở mức độ khái quát nhất mang tính định hƣớng hoặc chỉ dừng lại ở những băn khoăn, trăn trở đƣợc đúc rút từ thực tiễn công tác. Song chƣa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu việc xây dựng môi trƣờng học tập cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở các trƣờng chính trị tỉnh miền núi. Với đề tài “Xây dựng môi trường học tập tích cực cho học viên là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở trường Chính trị tỉnh Điện Biên” tác giả luận văn hy vọng sẽ hệ thống và phát triển các vấn đề lý luận về xây dựng môi trƣờng học tập tích cực. Trên cơ sở đó vận dụng vào việc xây dựng môi trƣờng học tập tích cực cho đối tƣợng ngƣời học là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở trƣờng chính trị tỉnh Điện Biên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Một số khái niệm cơ bản 1. Môi trường, môi trường học tập 1. Môi trường Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau mà các nhà nghiên cứu có những quan niệm và cách hiểu khác nhau về môi trƣờng: Theo nghĩa rộng nhất môi trƣờng là tập hợp các điều kiện và hiện tƣợng bên ngoài có ảnh hƣởng tới một vật thể hoặc sự kiện.
Bất cứ vật thể nào cũng tồn tại và diễn biến theo các chiều hƣớng khác nhau trong sự tác động của tập hợp những tác động vốn không thuộc bản thân chúng. Theo Unesco (1981) thì môi trƣờng của con ngƣời bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con ngƣời tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa…) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật…), trong đó con ngƣời sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu cuả mình. Theo từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam do tác giả Vũ Ngọc Khánh biên soạn thì môi trƣờng đƣợc hiểu là toàn bộ những nhân tố bao quanh con ngƣời hay sinh vật và tác động lên cuộc sống của nó. Theo tác giả Vũ Trung Tạng: Môi trƣờng là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tƣợng, các thực thể của tự nhiên… mà ở đó, cá thể, quần thể, loài… có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình.
Xuất phát từ mục đích của ngƣời nghiên cứu, mọi cách tiếp cận và định nghĩa về môi trƣờng đều có cơ sở khoa học và có tính định hƣớng cho việc nghiên cứu. Tuy nhiên tựu chung lại chúng ta có thể hiểu: Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như không khí; nước; độ ẩm; sinh vật; xã hội loài người và các thể chế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Môi trường học tập Học tập là tích lũy kiến thức; là tiếp thu có chọn lọc tinh hoa cuả thế hệ đi trƣớc nhằm nâng cao sự hiểu biết và năng năng lực nhận thức của bản thân.
Theo từ điển tiếng Việt thì học tập là học và luyện tập để hiểu biết và để có kỹ năng. Định nghĩa về học tập tác giả Lâm Quang Thiệp cho rằng: “Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trƣờng xung quanh”. Theo đó thì môi trƣờng học tập là tất cả các yếu tố tác động đến việc học và luyện tập giúp cho việc học và luyện tập đạt kết quả tốt nhất. Trong phạm nhà trƣờng, môi trƣờng học tập đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm xem xét một cách cụ thể.
Trong tài liệu “Curriculum Devilopment a Guide to Pracetice” do tiến sĩ Nguyễn Kim Dung dịch đã quan niệm môi trƣờng học tập gồm: Môi trường học tập theo truyền thống: Nhà trƣờng là nơi đơn độc, tĩnh lặng và trật tự.