CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU “XÂY DỰNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIA SÀI GÒN - NGHỆ TĨNH” 1. Tính cấp thiết của đề tài Kế toán trách nhiệm (KTTN) là một trong những nội dung cơ bản của kế toán quản trị, nó là một trong những công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò quan trọng trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. KTTN giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá hoạt động của những bộ phận trong doanh nghiệp, đồng thời đánh giá trách nhiệm quản lý của nhà quản trị các cấp. Từ đó, giúp các nhà quản trị các cấp có những thông tin hữu ích trong việc ra quyết định để đạt được mục tiêu chung.
Đồng thời KTTN cũng thúc đẩy, khuyến khích các nhà quản trị phát huy năng lực quản lý của mình góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của doanh nghiệp. KTTN có vai trò quan trọng trong công tác quản lý của doanh nghiệp nhưng vẫn còn là nội dung tương đối mới không chỉ trong thực tế mà cả trong nghiên cứu đối với Việt Nam, mặc dù kế toán quản trị (KTQT) và KTTN đã được các nước trên thế giới đề cập và phát triển tương đối lâu. Trong hoạt động công nghiệp, ngành bia - rượu - nước giải khát được đánh giá hoạt động là có hiệu quả kinh tế cao so với các ngành khác. Từ năm 2001-2015, lợi nhuận ngành này đã tăng gấp 4 lần với tốc độ tăng trung bình đạt 32,12%/năm.
Trong đó, tính theo chuyên ngành thì sản xuất bia có lợi nhuận cao nhất. Không chỉ Công ty Nghiên cứu thị trường Euromonitor International đánh giá Việt Nam là nước tiêu thụ bia hàng đầu Đông Nam Á với gần 2,6 tỷ lít trong năm 2011, kỷ lục uống bia của người Việt còn được công ty sản xuất bia danh tiếng Kirin Holding’s của Nhật Bản ghi nhận. (Nguồn Euromonitor dự báo năm 2012) Theo đó, Việt Nam nằm trong nhóm 25 quốc gia uống bia nhiều nhất thế giới với sản lượng tiêu thụ tăng hàng chục phần trăm mỗi năm. Khi lập quy hoạch phát triển ngành rượu - bia - 2 nước giải khát đến năm 2010, tầm nhìn 2015, Bộ Công Thương đưa ra dự báo sản lượng bia của Việt Nam sẽ đạt 2,7 tỷ lít vào năm 2010.
Tuy nhiên, chỉ 2 năm sau khi lập quy hoạch, Bộ Công Thương đã phải xem xét điều chỉnh lên 3 tỷ lít cho phù hợp với tốc độ tăng trưởng về sản xuất và tiêu dùng bia trong thực tế. (Nguồn Báo cáo số 20/BC-BTC ngày 01 tháng 03 năm 2010) Với sự điều chỉnh này, mức tiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam là 28 lít mỗi năm. Năm 2008 là năm Việt Nam đạt kỷ lục lạm phát gần 20% nhưng người dân cũng không vì thế mà cắt giảm chi phí giành cho bia. Từ năm 2009, kinh tế rơi vào tình trạng suy giảm, đến nay vẫn chưa hết khó khăn nhưng ngành bia vẫn phát tài.
Sức hấp dẫn của thị trường bia Việt Nam thu hút hàng trăm nhà sản xuất bia với đủ quy mô lớn nhỏ, hình thức địa phương, tổng công ty, liên doanh, nước ngoài. Để phát triển và tồn tại vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp sản xuất bia Việt Nam đó là phải đảm bảo chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng không chỉ đối với trong nước mà cả đối với tiêu dùng nước ngoài. Muốn như vậy, các doanh nghiệp sản xuất bia Việt Nam phải có phương thức quản lý tốt từ khâu đầu vào đến sản xuất và tiêu thụ, tạo uy tín về thương hiệu cũng như chất lượng sản phẩm. Một trong những công cụ quản lý và kiểm soát hiệu quả hiện nay cho các doanh nghiệp là hệ thống KTTN.
Trước vai trò quan trọng và cấp thiết của KTTN đối với doanh nghiệp cho nên em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu "Xây dựng mô hình kế toán trách nhiệm tại Công ty cổ phần bia Sài Gòn - Nghệ Tĩnh" làm luận văn thạc sỹ. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Kiểm soát chi phí luôn là vấn đề hàng đầu của các nhà quản trị, để kiểm soát được chi phí đòi hỏi nhà quản trị phải có các công cụ quản lý tài chính phù hợp, KTTN chính là một công cụ hữu ích để quản lý. Hơn nữa, một nhà quản trị không thể thâu tóm và phát huy được năng lực ở tất cả các lĩnh vực, bộ phận trong doanh nghiệp, mà cần phải có sự phân quyền để quản lý có hiệu quả.
Kellogg (1962), đã nghiên cứu sự phát triển của KTTN trong mối quan hệ giữa 3 KTTN với cơ cấu tổ chức, KTTN với kế toán chi phí, KTTN với ngân sách, KTTN với kiểm soát chi phí. KTTN có mối quan hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý và với kế toán chi phí [33]. Trước hết một tổ chức luôn có sự phân cấp, phân quyền quản lý, do vậy cơ cấu tổ chức luôn có sự thay đổi. Chính vì vậy, để thiết lập hệ thống KTTN cần đảm bảo một số nguyên tắc sau: (1) Phân tách tổ chức thành các bộ phận, đơn vị theo từng chức năng cụ thể.
(2) Phân công trách nhiệm cụ thể cho mỗi bộ phận và đơn vị. (3) Mỗi bộ phận, đơn vị phải thực hiện báo cáo. (4) Thành lập các vị trí giám sát đối với từng cấp quản lý. KTTN là cần thiết để kiểm soát ngân sách và đảm bảo nguyên tắc: (1) Ngân sách phải được lập và báo cáo gắn liền với KTTC, không được điều chỉnh hay bổ sung.
(2) Ngân sách được xác định phù hợp với quyền hạn và trách nhiệm. (3) Ngân sách phải được xây dựng đơn giản, trong giới hạn phạm vi sử dụng chính. KTTN kiểm soát chi phí với chức năng chính là giám sát ở các cấp từ phân xưởng đến ban quản trị. Để kiểm soát được chi phí theo tác giả cần tìm hiểu và xác định được nguồn gốc phát sinh chi phí, từ đó kiểm soát chi phí trên cơ sở đó.
Đồng thời, KTTN cũng được tác giả Joeph P. Vogel (1962) đề cập đến phân trách nhiệm trong doanh nghiệp, cụ thể là công ty điện, trước hết KTTN được sử dụng để kiểm soát chi phí. Theo tác giả nếu không có hệ thống kế toán thống nhất, mỗi công ty sẽ xây dựng cho mình một hệ thống kế toán tự do, khi đó chi phí phát sinh. Để hạn chế chi phí bằng cách qui trách nhiệm cá nhân, trên cơ sở này xác định trách nhiệm cá nhân với mỗi loại chi phí.
Tác giả đã đề cập đến việc xây dựng và thiết lập hệ thống KTTN trong doanh nghiệp, KTTN được thiết kế phù hợp với cơ cấu tổ chức của từng doanh nghiệp, tùy thuộc vào qui mô hoạt động mà phân cấp quản lý như: Chủ tịch hội đồng quản trị, ban giám đốc, phòng ban, phân xưởng hay giám đốc, trưởng phòng, quản đốc,. KTTN phải được xây dựng trên cơ sở cấp quản lý nhằm thu thập thông tin cũng như kiểm soát thông tin tại các bộ phận từ đó cung cấp thông tin cho nhà quản trị có quyết định hiệu quả. Theo tác giả thiết kế và 4 xây dựng một hệ thống KTTN không hề đơn giản, đây là một công việc lớn đòi hỏi thay đổi cả hệ thống ảnh hưởng đến các phòng ban của doanh nghiệp, việc thay đổi diễn ra đồng bộ có như vậy mới thành công. Gordon cũng đề cập đến vấn đề phân cấp quản lý trong lý thuyết của hệ thống KTTN.
Cơ sở của hệ thống KTTN là thuyết kinh tế và tổ chức, KTTN chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có phân cấp và tổ chức. Lý thuyết tổ chức được quan tâm trong mối quan hệ với phân quyền. Như vậy khi nghiên cứu đến KTTN là nghiên cứu đến cả hai vấn đề kinh tế và xã hội, nếu bỏ qua một trong hai yếu tố trên việc thiết lập KTTN sẽ thất bại. Các nhà kinh tế chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà không quan tâm đến thái độ, quản lý và động viên cấp dưới.
Theo tác giả tổ chức hiệu quả nhất có ứng dụng trong việc thiết kế và sử dụng một hệ thống KTTN. Một hệ thống bao gồm: (1) Một tập hợp các tiểu doanh nghiệp, tức là trung tâm chi phí và trung tâm lợi nhuận; (2) Thiết lập các quy tắc xác định giá hàng hóa và dịch vụ mỗi công ty con; (3) Thiết lập quyền và trách nhiệm với người quản lý của mỗi công ty; (4) Cấu trúc một phần thưởng khuyến khích hoạt động của người quản lý. Trong hoạt động hệ thống cung cấp xác định các chi phí phát sinh và giá trị sản lượng của mỗi người quản lý. Sự khác biệt giữa hai số lượng này có thể được gọi là lợi nhuận mà người quản lý sản xuất.
Thiết kế một hệ thống quản lý sao cho mỗi người quản lý hoạt động trong lợi ích của mình gắn chặt với những hoạt động lợi nhuận cao nhất của công ty. Ngoài ra tác giả đề cập đến chi phí tiêu chuẩn trong việc xây dựng hệ thống KTTN. Hệ thống chi phí tiêu chuẩn đã phát triển đầy đủ nhất trong sự kiểm soát của bộ phận tham gia vào sản xuất theo các giả định đơn giản liên quan đến trách nhiệm của người quản lý bộ phận. Tóm lại, đầu tiên bằng cách sử dụng lý thuyết, pháp luật của kinh tế, KTTN có thể được mở rộng đến các khu vực mới, mở rộng của nó đến bộ phận thu mua.
Phân tích tương tự có thể dẫn đến trách nhiệm báo cáo hiệu quả hơn cho hoạt động bán hàng và báo cáo toàn diện hơn cho các bộ phận sản xuất. Thứ hai, kiến thức về mối quan hệ và hành vi của con 5 người trong các tổ chức trong các lĩnh vực của tâm lý học xã hội có thể cung cấp câu trả lời đáng tin cậy về một số vấn đề lâu đời trong KTTN chẳng hạn như mức độ chính xác của các tiêu chuẩn cần phải có, trình độ quản lý hệ thống kế toán chính thức trách nhiệm nên được sử dụng, và thiết kế và sử dụng thích hợp của hệ thống tại mỗi mức độ. [36] Theo tác giả Nahum Melumad, Dilip Mookherjee, Stefan Reichelstein (1992), một trong những bộ phận quan trọng cấu thành KTTN đó là các trung tâm. Các trung tâm được xây dựng phù hợp với cơ cấu tổ chức hoạt động của từng tổ chức.
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đưa ra các lý thuyết về các trung tâm trách nhiệm, có 3 trung tâm trách nhiệm là trung tâm chi phí, trung tâm lợi nhuận và các trung tâm đầu tư.