Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ngãi Lãnh Đạo Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Từ Năm 2001 Đến Năm 2010

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích ussh đảng bộ tỉnh quảng ngãi lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

123
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận, tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO VỀ XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2005

1.1.1. Tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Ngãi đến năm 2001 - Những nhân tố tác động

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ CÁC KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc Tại Quảng Ngãi

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển của tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2001 đến 2010. Trong giai đoạn này, tỉnh đã có nhiều chính sách và biện pháp nhằm củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã lãnh đạo việc xây dựng khối đại đoàn kết thông qua các chương trình phát triển cộng đồng, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào các hoạt động xã hội và phát triển kinh tế.

1.1. Ý Nghĩa Của Khối Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là một truyền thống văn hóa mà còn là một yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ngãi. Sự đoàn kết giúp tăng cường sức mạnh nội lực, tạo ra sự đồng thuận trong xã hội và thúc đẩy các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.

1.2. Lịch Sử Hình Thành Khối Đại Đoàn Kết Tại Quảng Ngãi

Khối đại đoàn kết tại Quảng Ngãi đã hình thành từ rất sớm, với sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân. Từ những năm đầu thế kỷ 21, tỉnh đã có những bước tiến quan trọng trong việc củng cố khối đại đoàn kết, đặc biệt là sau khi tách tỉnh vào năm 1989.

II. Những Thách Thức Trong Việc Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết Tại Quảng Ngãi

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại Quảng Ngãi vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như sự phân hóa xã hội, sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, và những khó khăn trong việc thực hiện các chính sách phát triển là những yếu tố cần được giải quyết.

2.1. Sự Phân Hóa Xã Hội

Sự phân hóa xã hội tại Quảng Ngãi đã tạo ra những rào cản trong việc xây dựng khối đại đoàn kết. Các nhóm dân cư khác nhau có nhu cầu và lợi ích khác nhau, dẫn đến sự khó khăn trong việc tạo ra sự đồng thuận.

2.2. Khác Biệt Văn Hóa Giữa Các Dân Tộc

Quảng Ngãi có nhiều dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán riêng. Sự khác biệt này đôi khi gây ra những hiểu lầm và xung đột, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết.

III. Phương Pháp Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết Tại Quảng Ngãi

Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các chương trình phát triển cộng đồng, các hoạt động giao lưu văn hóa, và các chính sách hỗ trợ kinh tế là những biện pháp quan trọng trong việc củng cố khối đại đoàn kết.

3.1. Chương Trình Phát Triển Cộng Đồng

Các chương trình phát triển cộng đồng đã được triển khai nhằm tạo ra cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào quá trình phát triển. Những chương trình này không chỉ giúp cải thiện đời sống mà còn tăng cường sự gắn kết giữa các cộng đồng.

3.2. Hoạt Động Giao Lưu Văn Hóa

Hoạt động giao lưu văn hóa giữa các dân tộc đã giúp tăng cường sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Những sự kiện văn hóa này không chỉ là dịp để quảng bá bản sắc văn hóa mà còn là cơ hội để xây dựng tình đoàn kết.

IV. Kết Quả Nổi Bật Trong Xây Dựng Khối Đại Đoàn Kết Tại Quảng Ngãi

Trong giai đoạn 2001-2010, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự phát triển kinh tế, sự cải thiện đời sống của nhân dân, và sự gắn kết giữa các dân tộc là những thành tựu đáng ghi nhận.

4.1. Sự Phát Triển Kinh Tế

Kinh tế tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao đời sống của người dân. Sự phát triển này đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân.

4.2. Cải Thiện Đời Sống Nhân Dân

Chính sách phát triển đã giúp cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân, từ đó củng cố khối đại đoàn kết. Người dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

V. Kết Luận Về Khối Đại Đoàn Kết Tại Quảng Ngãi

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại Quảng Ngãi từ năm 2001 đến 2010 đã có những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy sức mạnh này, cần có những chính sách và biện pháp phù hợp nhằm giải quyết các thách thức hiện tại.

5.1. Định Hướng Tương Lai

Để xây dựng khối đại đoàn kết bền vững, tỉnh Quảng Ngãi cần tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được và khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Việc tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của mọi tầng lớp nhân dân là rất cần thiết.

5.2. Vai Trò Của Đảng Bộ Tỉnh

Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi cần tiếp tục lãnh đạo và chỉ đạo các hoạt động xây dựng khối đại đoàn kết, đảm bảo mọi chính sách đều hướng tới lợi ích của nhân dân.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO VỀ XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2005 1. Tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Ngãi đến năm 2001 - Những nhân tố tác động Về điều kiện tự nhiên, tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, ở vị trí 14o 32’-15o 25’ vĩ độ Bắc, 108o 06’-109o 04’ độ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Tây Nam giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp Biển đông với đường bờ biển dài 130 km, ngư trường rộng lớn với tiềm năng nuôi trồng, chế biến thủy sản rất lớn.

Tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 5.137,50 km2 bằng 1,7% diện tích tự nhiên của đất nước, với gần 2/3 diện tích núi rừng và đồi trọc. Địa hình nghiêng từ Tây sang Đông, chia làm 4 khu vực: đồng bằng, trung du, miền núi, hải đảo, đồng bằng có độ cao 8 độ so với mực nước biển… Với vị trí địa lý trên, Quảng Ngãi có đầy đủ sông, biển, núi, đồi thấp. Tỉnh Quảng Ngãi có vịnh Dung Quất được Chính phủ quyết định xây dựng cảng biển nước sâu và khi công nghiệp trọng điểm của cả miền Trung. Cách đất liền 18 hải lý, Quảng Ngãi có đảo Lý Sơn rộng khoảng 11 km2, dân số khoảng 18.

Ngay từ năm 1604, đời vua Lê Kính Tông những cư dân đầu tiên của làng An Hải (Bình Châu, huyên Bình Sơn) và An Vĩnh (Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh) đã ra đảo lập nghiệp và canh giữ vùng đất thiêng của Tổ quốc. Đến đầu triều Nguyễn, Lý Sơn đã được biết đến như một hòn đảo tiền tiêu, có vị trí trọng yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nơi đây còn nhiều vùng đất của những chứng tích lâu đời như khu di chỉ văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm; có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như Ba Tơ, Sơn Mỹ, Vạn Tường; nhiều cảnh đẹp như Thiên Ấn, bãi biển Mỹ Khê. Về con người và đời sống văn hóa, xã hội, từ trong buổi bình minh của lịch sử, vùng đất Quảng Ngãi đã có con người thời đại đá cũ sinh sống.

Qua các nghiên cứu của các nhà khảo cổ học cho thấy cách nay từ 30 vạn năm đến 15 vạn năm, cư dân thời đại đá cũ đã sinh sống trên địa bàn Quảng Ngãi. Đây là bước khởi đầu văn minh của người nguyên thủy để từ đó phát triển lên thời đại đá mới. Tỉnh Quảng Ngãi xưa là đất Việt thường thị, đời Tấn thuộc Tượng Lâm quận, đời Hán là bờ cõi quận Nhật Nam, đời Đường thuộc Lâm Ấp, đời Tống là đất Cổ Lũy của Chiêm Thành. Năm 1402, Hồ Quý Ly chinh phạt Chiêm Thành, vua Chiêm dâng vùng đất Quảng Ngãi là Cổ Lũy động.

Năm 1471, vua Lê Thánh Tôn lấy đất Đại Chiêm (Quảng Nam) và đất Cổ Lũy lập đạo Quảng Nam, có 3 phủ, 9 huyện. Quảng Ngãi thành một phủ, phủ Quảng Nghĩa. Dưới triều Minh Mạng thứ 13 (năm 1832), đã đổi trấn thành tỉnh. Trấn Quảng Nghĩa dưới thời Gia Long được đổi thành tỉnh Quảng Nghĩa gồm có một phủ Tư Nghĩa kiêm lý huyện Chương Nghĩa và thống hạt hai huyện Bình Sơn và Mộ Hoa.

Năm 1832, lần đầu tiên Quảng Ngãi mang danh xưng hành chính là tỉnh. Từ ngày 10/11/1975 đến ngày 30/6/1989, tỉnh Quảng Ngãi hợp nhất với tỉnh Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình. Ngày 1/7/1989, tỉnh Nghĩa Bình tách ra thành tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định như cũ. Tính đến nay, Quảng Ngãi có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố, gồm 1 thành phố (Quảng Ngãi) (thành lập 26.2005), 6 huyện miền núi, 6 huyện đồng bằng và một huyện đảo.

Về dân cư, theo Địa chí Quảng Ngãi : người Kinh hiện diện ở tỉnh Quảng Ngãi bắt đầu chủ yếu từ thế kỷ XV trở đi, đa số là những nông dân ở 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vùng đồng bằng Bắc bộ, vùng Thanh- Nghệ di cư vào khẩn hoang đất đai, lập thành làng mạc. Vùng đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi, ngoài dân tộc Việt là đáng kể nhất, không có cộng đồng nào khác. Ở miền núi có các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong sinh sống. Họ là cư dân bản địa lâu đời, sống theo từng khu vực và có sự đan xen nhất định, có sự giao lưu, buôn bán với nhau và với người Việt ở miền xuôi lên buôn bán, khai khẩn.

Từ sau năm 1975, có một ít người các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc vào, song chỉ là đơn lẻ và hòa nhập vào các cộng đồng địa phương [9]. Theo Địa chí Quảng Ngãi, nếu tính về dân tộc, ở tỉnh Quảng Ngãi có đến 17 dân tộc, nhưng thực chất có 4 dân tộc có số lượng cư dân đáng kể. Đến năm 2005, dân tộc Kinh chiếm 88,8%, Ca dong 0,7%, Hrê 8,58%, Cor 1,8%, số người thuộc 13 dân tộc thiểu số khác chỉ chiếm 0,12% dân số. Đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi nổi tiếng chăm chỉ làm ăn.

Với các tộc người khác, đồng bào rất mến khách, coi trọng đại nghĩa, không gây chiến ai, uy hiếp ai. Nhưng khi lợi ích, tính mạng bị xâm phạm, quê hương đất nước bị lâm nạn, các dân tộc luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, chống quân xâm lược. Đối với dân tộc Kinh (Việt), có thể nói cư dân Việt đầu tiên ở Quảng Ngãi vào đầu thế kỷ XV. Năm 1402, qua cuộc xung đột giữa phong kiến Đại Việt và phong kiến Chăm pa, vua Chăm- pa nhượng hai châu Chiêm Động và Cỗ Lũy Động cho nhà Hồ.

Hồ Quý Ly đổi đặt thành 4 châu Thăng, Hoa (Quảng Nam), Tư, Nghĩa (Quảng Ngãi). Hồ Quý Ly ra lệnh cho dân có của cải mà không có ruộng đất ở vùng Nghệ An, Thanh Hóa đem vợ con di cư vào vùng đất mới để khai khẩn; việc di dân này phần nào có tính bắt buộc. Những người không có của cải, phương tiện canh tác thì nhà Hồ cấp phát trâu cho họ. Nhà nước vận động dân chúng: ai có trâu đem hiến nộp sẽ được cấp phẩm tước.

Hồ Quý Ly bắt buộc những người nông dân di cư không được quay về bản quán, sau khi đã thích dấu hiệu lên cánh tay của họ. Các sử sách 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chép rằng: chữ Châu được thích lên cánh tay những người lưu dân. Đây là cuộc di dân lần đầu tiên của người Kinh đến vùng đất Quảng Ngãi. Vùng cư trú hiện này của người Kinh tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng và các thị tứ, thị trấn ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi; một số sinh sống đan xen với người dân tộc thiểu số ở miền núi.

Hrê là tộc người có số dân đứng thứ hai trong tỉnh Quảng Ngãi sau dân tộc Kinh. Họ sống tập trung ở các huyện miền núi: huyện Ba Tơ, huyện Minh Long, huyện Sơn Hà. Ngoài ra, người Hrê sống đan xen với người Kinh ở vùng tây các huyện Nghĩa hành, huyện Tư Nghĩa. Ở vùng phía đông của huyện Sơn Tây, phía nam của huyện Trà Bồng.

Nhìn chung, xã hội Hrê vẫn mang tính cộng đồng, đoàn kết gắn bó giữa các thành viên. Điều này thể hiện ở các hình thức vẫn đổi công, tương trợ, tục chia sẻ trong ăn uống, lễ tết, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau. Sự liên kết giữa các gia đình cũng như sự gắn bó của mỗi thành viên với làng dựa trên quan hệ thân tộc hoặc quan hệ láng giềng. Vùng cư trú của người Hrê nằm ở vị trí thông thương với Tây Nguyên xuống và đồng bằng lên nên rất thuận lợi trong trao đổi buôn bán.

Dân tộc Cor là dân tộc có số dân đông thứ ba trong tỉnh Quảng Ngãi. Địa bàn cư trú của dân tộc Cor ở các huyện miền núi: Trà Bồng và Tây Trà của tỉnh Quảng Ngãi. Người Cor có ý thức tự giác tộc người cao, có ý bản địa và tự hào về truyền thống của tổ tiên. Người Cor có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Môn- Khơ me và thuộc nhóm ngôn ngữ Bahnaric phía Bắc.

Đặc trưng sinh hoạt kinh tế của người Cor là lấy kinh tế nương rẫy làm nguồn thu nhập chính. Đồng bào có nhiều giống lúa rẫy. Vùng người Cor nổi tiếng về giống trầu không và quế. Cadong là tộc người có số dân đứng thứ tư trong tỉnh Quảng Ngãi, cư trú ở huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi).

Tộc người Cadong là một nhóm địa phương của dân tộc Xơ Đăng, thuộc ngữ hệ Môn- Khơme và thuộc nhóm ngôn ngữ Bahnaric. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kinh tế truyền thống của tộc người Cadong chủ yếu là nông nghiệp rẫy. Ngoài ra còn có khai thác lâm thổ sản, thủy sản, dệt vải. Nhìn chung, người dân tộc Cadong bình đẳng, cố kết nhau trong một khối cộng đồng là làng thống nhất được quy định bởi luật tục.

Từ thời tiền sử, trên vùng đất Quảng Ngãi phần nào đã có sự hợp chủng hòa huyết giữa các nhóm Nam Đảo và nhóm Nam Á. Từ thế kỷ XV trở đi, trên vùng đất Quảng Ngãi đã có sự hợp huyết nhất định giữa người Chăm bản địa và người Kinh từ miền Bắc di cư vào, giữa người thiểu số miền núi và người Kinh đồng bằng, giữa người Kinh và nhóm người Hoa di cư từ Nam Trung Hoa đến. Giữa các dân tộc anh em đã có sự giao lưu, trao đổi từ lâu đời với nhau. Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần đoàn kết các dân tộc trên đất Quảng Ngãi càng được phát huy mạnh mẽ.

Các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi cùng nằm trong một khu vực lịch sử - dân tộc học, có chung một vận mệnh lịch sử lâu đời, đã cùng nhau tham gia vào những cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột của các triều đại phong kiến và những cuộc đấu tranh chống xâm lược. Đặc biệt, sống trong vùng thiên nhiên phong phú, đa dạng nhưng vô cùng khắc nghiệt, đồng bào các dân tộc miền núi đã xây dựng nên truyền thống đoàn kết, gắn bó cùng nhau để sinh tồn. Các mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc đã có từ lâu đời. Nhưng mỗi tộc người đều có những phong tục tập quán và đặc điểm riêng.

Về kinh tế, quan hệ mua bán, trao đổi giữa các dân tộc thực hiện bằng nhiều hình thức, đã được xác lập từ lâu đời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ