Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 4, 5 1. Đặc điểm sinh lí của học sinh lớp 4, 5 Độ tuổi HS lớp 4, 5 có những đặc điểm sau: Hệ xương: còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kì phát triển mạnh (thời kì cốt hóa) nên dễ bị cong vẹo, gãy,… Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của HS, cha mẹ và GV cần phải chú ý quan tâm, hướng HS tới những hoạt động vui chơi phù hợp, an toàn. Hệ cơ: đặc biệt đang trong thời kì phát triển mạnh, nên HS lớp 4, 5 rất thích tham gia các trò chơi vận động như: chạy, nhảy, nô đùa,… Chính vì vậy khi tổ chức GV nên lưu ý chọn những trò chơi vận động từ mức đơn giản đến phức tạp sao cho đảm bảo an toàn cho HS.
Hệ thần kinh: Sự hình thành các vùng trên vỏ não đạt được các chỉ số gần giống người lớn, thùy trán phát triển mạnh. Những đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi để HS tiến hành hoạt động học có đối tượng là các tri thức khoa học. Giai đoạn này ở các em quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế, dẫn đến HS TH hiếu động, chưa làm chủ được tốt cảm xúc của mình. Những đường liên hệ thần kinh tạm thời trên vỏ não của HS dễ hình thành nhưng lại không bền vững, dẫn đến HS dễ nhớ nhưng cũng chóng quên.
Vì vậy, để HS nắm vững kiến thức, kĩ năng GV phải tổ chức cho HS ôn luyện nhiều lần. Hệ thần kinh cao cấp ở các em cũng đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của HS chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó HS rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ, mang tính thử thách. Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4, 5 a.
Tri giác Tri giác của HS TH mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định. Ở cấp đầu TH, tri giác thường gắn với hành động trực quan. HS TH lớp 4, 5 tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm. Tri giác của HS đã mang tính có mục đích, phương hướng rõ ràng – tri giác có chủ định.
HS biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ đơn giản đến phức tạp hơn. Nhận thấy điều này, GV cần tìm cách thu hút HS bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích HS cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác hơn. Chú ý Ở đầu cấp TH, sự chú ý có chủ định của HS còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển sự chú ý của các em còn hạn chế. Ở giai đoạn này, chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định.
Nhưng đến cuối cấp TH, HS dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều khiển sự chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế ngày càng lớn. Ở HS có sự nỗ lực nhiều hơn về ý chí trong hoạt động học tập như: học thuộc các bài thơ, nội dung chính của bài học, hay một bài hát dài,… HS biết hướng sự chú ý vào nội dung cơ bản của tài liệu học tập và bắt đầu có khả năng phân phối sự chú ý sao cho hiệu quả và phù hợp với mục tiêu định sẵn. Trong sự chú ý của HS đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, HS đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian cho phép.
Vì vậy trong giai đoạn này GV nên giao cho HS những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý đặc biệt về thời gian nhưng cần linh hoạt theo từng nhóm tuổi và chú ý đến tính cá thể của từng HS. Trí nhớ Trí nhớ trực quan ở HS phát triển tốt hơn trí nhớ trừu tượng, trí nhớ trong thời gian ngắn phát triển tốt hơn trí nhớ trong thời gian dài, trí nhớ không chủ 12 định và có chủ định phát triển mạnh. Giai đoạn lớp 4, 5 việc ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ ở HS được tăng cường. Ghi nhớ có chủ định ở các em đã phát triển.
Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức độ tích cực tập trung trí tuệ của HS, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lí, tình cảm hay hứng thú của HS… Các nhà GD phải giúp HS biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp HS xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thuộc và phải gây được hứng thú cho HS khi ghi nhớ kiến thức.Tư duy Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy cụ thể. HS lớp 4, 5 tư duy cụ thể vẫn đang tiếp tục phát triển, tư duy trừu tượng đang trong giai đoạn hình thành và dần chiếm ưu thế. Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành cấu trúc tương đối ổn định và trọn vẹn. HS biết căn cứ vào các dấu hiệu bản chất đối tượng để khái quát thành khái niệm.
HS có thể nhìn sự vật diễn biến theo nhiều hình thức, một hiện tượng có nhiều nguyên nhân. Khả năng khái quát hóa tăng dần theo lứa tuổi, HS lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lí luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp còn sơ giản. Tưởng tượng Trí tưởng tượng của HS lớp 4, 5 đã phát triển phong phú hơn rất nhiều so với HS mầm non và đầu cấp TH nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm nhiều hơn.
Ở cuối cấp TH, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện từ những hình ảnh cũ HS đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển, HS bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, văn, vẽ tranh,… Đặc biệt, tưởng tượng của HS trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi cảm xúc, tình cảm, những hình ảnh, sự vật, hiện tượng gắn liền với rung động tình cảm của HS. Qua đây, các nhà GD phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của HS bằng cách biến kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho HS 13 những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút HS vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để HS có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện thông qua đó từng bước hình thành và phát triển năng lực cá nhân. Ngôn ngữ Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của HS.
Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của các em phát triển dễ dàng và được biểu hiện qua ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ của HS cuối cấp TH phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng. Vốn từ của HS tăng lên đáng kể nhờ tích luỹ từ kiến thức của các môn học trong nhà trường và phạm vi tiếp xúc xã hội được mở rộng hơn so với giai đoạn trước. Khả năng hiểu nghĩa từ ở các em cũng phát triển: từ chỗ hiểu một cách cụ thể, cảm tính đến hiểu khái quát, trừu tượng.
Tuy nhiên, HS thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của các bài khóa; vì vậy việc hiểu nghĩa bóng vẫn còn khá khó khăn đối với các em. Bên cạnh đó, ở lứa tuổi này, HS đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp cơ bản khi nói và viết nhưng việc vận dụng từ ngôn ngữ nói vào ngôn ngữ viết chưa thuần thục, còn phạm nhiều lỗi. Chính vì vậy nên khi viết HS đôi khi dùng từ còn sai, viết câu chưa đúng, chưa biết sử dụng các dấu câu như: phẩy, chấm câu… đúng chỗ. Hoạt động dạy học 1.
Khái niệm “Dạy học” a. Hoạt động dạy Hoạt động dạy là sự điều khiển tối ưu quá trình HS tự giác tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học. Nó vừa là điểm xuất phát cho dạy, lại là điểm kết thúc của học. Trong phạm vi nhà trường, hoạt động dạy là hoạt động người thầy – định hướng, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của người 14 học, giúp người học tìm tòi, khám phá tri thức tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách ở bản thân.
Bản chất của hoạt động dạy là dạy hành động – hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức. Do đó, trong dạy học, GV cần tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng, nỗ lực không ngừng của người học để qua đó người học không chỉ chiếm lĩnh được tri thức mà còn đồng thời phát triển trí tuệ, năng lực và các phẩm chất tinh thần cần thiết. Dạy - không chỉ đơn thuần là hoạt động của GV nhằm mục đích truyền thụ kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho HS nhằm hoàn thành và đáp ứng được các mục tiêu bài học đề ra theo một khuôn mẫu cho trước, mà thông qua hoạt động dạy GV còn có trách nhiệm bằng các phương pháp sư phạm phù hợp tạo cho HS một môi trường tốt nhất để HS có thể phát huy tối đa những tố chất, năng lực tiềm ẩn của bản thân. Chỉ khi nào thật sự nắm bắt được các điều kiện bên trong như: hiểu biết, năng lực, hứng thú,…của HS thì GV mới có thể xây dựng được các hoạt động phù hợp để áp dụng vào các tiết học nhằm truyền đạt, khơi gợi hứng thú từ đó giúp HS phát huy tốt hơn năng lực của bản thân.
Hoạt động học Khi nói đến hoạt động học cần làm rõ khái niệm học và hoạt động học. Khái niệm học: Để tiếp thu nền văn minh của nhân loại, con người có nhiều cách khác nhau. Học là khái niệm rộng trong đời sống. Học diễn ra một cách ngẫu nhiên, không chủ định, ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào theo phương thức thường ngày trong một hoạt động khác.
Học ở con người là do các phản ứng sinh học, bẩm sinh của cơ thể. Khái niệm hoạt động học: Nhà tâm lý học Đ. Encônhin là người đặt nền móng cho lý thuyết hoạt động học. Hoạt động học là hoạt động có ý thức nhằm thay đổi bản thân chủ thể của hoạt động học.