phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương như sau Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của đề tài. Chƣơng 2: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho nội dung “Tổ hợp, xác suất” (Chương II - Đại số 11). Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm.
5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Trắc nghiệm trong quá trình dạy học.1 Khái niệm trắc nghiệm Tham khảo Nguyễn Bá Kim [4, Tr.320] có thể tóm tắt một số vấn đề về trắc nghiệm khách quan như sau: Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học cho phép dùng một loạt những động tác xác định để nghiên cứu một hay nhiều đặc điểm nhân cách phân biệt được bằng thực nghiệm với mục tiêu đi tới những mệnh đề lượng hóa tối đa có thể được về mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cần nghiên cứu. “Người ta thường phân biệt trắc nghiệm chuẩn hoá và trắc nghiệm do giáo viên tự tạo, gọi tắt là trắc nghiệm tự tạo”. Ưu điểm và nhược điểm của trắc nghiệm Tham khảo Nguyễn Bá Kim [4, Tr.322] ta thấy ưu nhược điểm của trắc nghiệm như sau: Việc giáo viên sử dụng trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá có nhiều ưu điểm: - Trắc nghiệm, kể cả khâu đánh giá kết quả, “bao gồm một chuỗi những thao tác đơn giản, xác định, do đó sử dụng trắc nghiệm sẽ tiết kiệm được thời gian chấm thi và có khi tiết kiệm được cả kinh phí”.
Mặt khác, kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm có những nhược điểm: - Mất nhiều thời gian trong việc ra đề thi. - Khó kiểm tra đánh giá bề sâu của kiến thức, khó có thể xác định những sai lầm của học sinh trong quá trình làm bài. Những dạng câu hỏi trắc nghiệm thông dụng Những câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường dùng trong môn Toán là: 6 z + Câu đúng – sai. + Câu có nhiều lựa chọn.
+ Câu cặp đôi, ghép ba. + Câu điền thế.324] Sau đây là chi tiết về các dạng nêu trên. - Dạng thứ nhất là câu trắc nghiệm lựa chọn Đúng/Sai. Trước một câu dẫn xác định (thông thường không phải câu hỏi) học sinh chọn một trong hai cách trả lời hoặc là “đúng” hoặc là “sai”.
Câu đúng sai có thể tách thành câu riêng lẻ hoặc được nhóm lại dưới cùng một câu dẫn [4, tr. Ví dụ: Mệnh đề sau đây ĐÚNG hay SAI? Số cách chọn ra 3 phần tử tử tập hợp 5 phần tử là A53 Khi soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan loại đúng-sai ta cần lưu ý: + Chọn câu dẫn sao cho học sinh khó có thể nhận ra ngay là đúng hay sai. + Tránh trích nguyên văn các câu đã được viết trong sách giáo khoa để tránh học sinh học thuộc lòng một cách máy móc. + Cần đảm bảo các câu đưa ra chắc chắn có tính đúng sai.
+ Mỗi câu trắc nghiệm khách quan nên nêu đúng một ý, cùng vấn đề tránh các câu có nhiều chi tiết không tập trung về một ý. - Dạng thứ hai là câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn Câu có nhiều lựa chọn là loại câu hỏi thường được sử dụng. Câu trả lời đúng cho từng câu hỏi được lựa chọn từ nhiều phương án (4 – 5 phương án) [4, tr. Câu có nhiều lựa chọn rất thông dụng khi muốn kiểm tra khả năng tiếp thu bài học của học sinh.
Tuy nhiên loại này mất thời gian cho việc soạn. Khi soạn câu hỏi dạng này cần chú ý: + Câu hỏi mà học sinh không rõ vấn đề để lựa chọn. 7 z + Những câu nhiễu không phải đưa ra tùy tiện. Giáo viên phải nhận ra những hướng sai lầm của học sinh có thể mắc phải khi giải quyết bài toán đó để đưa ra lựa chọn nhiễu [2, tr.
+ Phần câu hỏi rườm rà, không trọng tâm. Tuy nhiên, ta có thể phát triển câu có nhiều lựa chọn không phải là câu chỉ lựa chọn một đáp án mà có thể có nhiều đáp án, để góp phần củng cố và đào sâu kiến thức. Trong luận văn có xây dựng câu trắc nghiệm nhiều đáp án. Ví dụ : Lựa chọn ra các mệnh đề ĐÚNG trong các mệnh đề sau đây A.
Phép thử là một thí nghiệm hay một hành động không biết trước được kết quả xảy ra. Không gian mẫu của phép thử là tập hợp tất cả các kết quả có thể xảy ra của phép thử được gọi là C. Phép thử “Gieo một con súc sắc” có không gian mẫu của là tập hợp 1, 2, 3, 4,5, 6. Không gian mẫu của phép thử “Gieo ba con súc sắc” là 126.
Trong câu hỏi trên có 3 mệnh đề đúng là A, B, C Dạng thứ 3 là câu trắc nghiệm ghép hợp Dạng này thích hợp cho việc kiểm tra lí thuyết [4, tr. Đối với câu hỏi trắc nghiệm dạng này ta có thể hướng dẫn học sinh trả lời theo hai cách: cách 1, dùng bút chì nối cột bên phải với bên trái sao cho được đáp án đúng. Cách 2: có thể kí hiệu một cột là số theo thứ tự, một cột sắp xếp theo A, B. sau đó học sinh ghép vào với nhau để được án đúng như ví dụ được trình bày dưới đây.
Trong luận văn, câu hỏi ghép đôi khi trình bày đáp án đúng sẽ trình bày theo cách thứ hai. Ví dụ: Hãy lập những mệnh đề đúng bằng cách ghép một dòng ở cột này với một dòng thích hợp ở cột bên kia. 8 z Khi biên soạn câu hỏi này cần lưu ý: + Dãy cột thông tin đưa ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liên quan đến nhau mà học sinh có thể nhầm lẫn nếu không lắm chắc kiến thức. + Cột câu hỏi và câu trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lời dư để học sinh tư duy tăng sự cân nhắc khi lựa chọn.
+ Thứ tự của câu trả lời không nên ăn khớp với thứ tự của câu hỏi để gây khó khăn cho sự lựa chọn.8] - Dạng thứ tư là câu điền vào chỗ trống (câu điền khuyết) Những câu hỏi, bài tập dạng này thường chứa những chỗ trống để học sinh điền những cụm từ thích hợp vào những chỗ trống đó. Những cụm từ này thường do học sinh nghĩ ra hay nhớ ra hoặc được cho sẵn trong những phương án có nhiều lựa chọn [4, tr. Trong quá trình soạn câu hỏi này cần đảm bảo: + Câu hỏi phải ngắn gọn để học sinh trả lời bằng một số, một từ cụ thể hay một câu ngắn; không thể có nhiều đáp án trả lời. + Tránh lập câu hỏi mà đáp án có thể trả lời bằng nhiều cách.
+ Câu hỏi phải rõ ràng, chính xác, không bàn cãi được [2, tr. 9 z * Người ta còn dùng câu hỏi trắc nghiệm khách quan khác như: + Câu trả lời ngắn. + Câu hỏi bằng hình vẽ: Chú thích một vài chi tiết bỏ sót trên hình vẽ, vẽ thêm các bộ phận còn thiếu, sửa một chi tiết sai trên một đồ thị hay một biểu đồ… + Sắp xếp lại thứ tự của các dòng để tạo thành một văn bản hợp lý đã có. Từ những lí do trên nên thông thường ta hay sử dụng câu hỏi có nhiều lựa chọn vì: + Khả năng phân loại học sinh tốt.
+ Đánh giá được nhiều kiến thức của học sinh + Tiết kiệm thời gian trong quá trình giảng bài và kiểm tra nhanh được quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết học. Như vậy với các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan đều có ưu điểm cũng như hạn chế vì vậy tùy vào mục đích sử dụng mà giáo viên đưa ra các lựa chọn thích hợp. Trong dạy học, khi sử dụng câu hỏi trắc nghiệm ta nên sử dụng đa dạng tất cả các câu hỏi trắc nghiệm để gây hứng thú cho học sinh. Cơ sở để xây dựng trắc nghiệm 1.
Cấu trúc của tài liệu trắc nghiệm Tài liệu trắc nghiệm thường được cấu trúc từ các bộ phận hợp thành sau - Phần hướng dẫn. - Phần bài tập. - Phần trả lời. - Phần hỗ trợ đánh giá chỉ dẫn cho người chấm phân biệt đúng sai và cho điểm.
Người ta thường dùng hai dạng hỗ trợ: văn bản đáp án cùng với biểu điểm, và bìa đục lỗ. Với việc máy tính điện tử được sử dụng ngày càng rộng 10 z rãi trong nhà trường, người ta có thể dùng phương tiện hiện đại này để hỗ trợ tiến hành trắc nghiệm, kể cả khâu chấm bài và đánh giá [4, tr. Xây dựng trắc nghiệm Tham khảo Nguyễn Bá Kim [4, tr.329] khi xây dựng trắc nghiệm cần: Căn cứ vào mục đích của trắc nghiệm cần xây dựng, dù để đánh giá trình độ chung của cả lớp hay kết quả học tập của từng học sinh, dù để giúp thầy ra những quyết định hợp lí trong dạy học hay để báo cáo lên các cấp quản lí giáo dục, dù để cung cấp phản hồi cho học sinh hay để thông báo cho gia đình, quá trình xây dựng trắc nghiệm nào cũng xuất phát từ những đặc điểm cần đánh giá, chẳng hạn kiến thức số học, kĩ năng tính toán, kĩ năng đọc hiểu, khả năng khái quát hoá Nhiều khi ta không thể cho học sinh làm tất cả các bài tập của một tập cơ bản nào đó, nói riêng là của một tập vô hạn những phần tử, vì vậy cần chọn ra một mẫu những bài tập tức là một tập con của tập cơ bản những bài tập, tiêu biểu cho tập cơ bản đó. Trắc nghiệm là một mẫu những bài tập như vậy.
Để thiết kế một trắc nghiệm, tức là một mẫu những bài tập như trên, để kiểm tra đánh giá, người ta thường làm như sau [4, tr.330]: - Liệt kê các tri thức, kĩ năng trải khắp các chương mục nội dung đã học - Căn cứ vào mục đích dạy học, tầm quan trọng và thời lượng ứng với mỗi tri thức kĩ năng mà phân bố điểm dành cho từng tri thức, kĩ năng đó; - Căn cứ vào số điểm dành cho mỗi tri thức, kĩ năng mà soạn những bài tập với số lượng thích hợp với số điểm ứng với từng tri thức hay kĩ năng đó và dưới những dạng thông dụng như đã nêu ở mục 1. Làm như vậy cũng là khắc phục một nhược điểm mà nhiều người ra đề kiểm tra hay mắc phải, đó là: ra đề vào những nội dung dễ ra, né tránh những nội dung có vẻ ít hấp dẫn, do đó không kiểm tra được đầy đủ những nội dung cần kiểm tra [4,Tr. 11 z Sau khi đã soạn bộ đề trắc nghiệm thì trình bày tài liệu trắc nghiệm theo cấu trúc và nội dung như đã nêu ở mục 1.