Chương 1: Cơ sở lý thuyết về xây dựng đời sống văn hóa và khái quát về đời sống văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Phương hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM 1.
Cơ sở lý thuyết về xây dựng đời sống văn hóa 1. Khái niệm - Văn hóa: Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người với tư cách con người - con người có văn hóa, đã sáng tạo nên trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội để phục vụ nhu cầu tồn tại và phát triển. Theo UNESCO: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc[16, tr. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. Nghiên cứu của Chu Văn Cấp (2019) cho rằng: Văn hóa là khái niệm chỉ thuộc tính của con người là sáng tạo, cải tạo hiện thực vươn tới giá trị nhân văn, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, là dấu hiệu để phân biệt loài người với loài vật, cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng khác. Đồng thời, đây cũng là khái niệm để chỉ trình độ và chất lượng cuộc sống của con người [13, tr25].
11 Như vậy có thể hiểu: Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Do đó, theo truyền thống, văn hóa có cấu trúc hai phần: văn hóa vật chất (bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại.) và văn hóa tinh thần (bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ nghi, lễ hội, phong tục, tập quán, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương). - Đời sống văn hóa Phạm trù đời sống văn hóa xuất hiện trong nhiều nghiên cứu về các công trình văn hóa, điểm khó định hình trong khái niệm này là phân biệt rõ giữa đời sống, đời sống văn hóa và môi trường văn hóa. Hiểu theo góc độ sinh học, đời sống chính là sự sống đang diễn ra (nói cách khác, là quá trình tồn tại của một cơ thể sống).
Mọi sinh vật, trong đó có con người đều có quá trình sống (tồn tại gắn liền với sự vận động tự thân từ bên trong đến bên ngoài cơ thể) trong một khoảng thời gian nhất định. Quá trình ấy gọi là đời sống, song đó chủ yếu là đời sống sinh học. Đời sống văn hóa nằm trong phạm vi của văn hóa tinh thần. Tuy vậy, không phải toàn bộ văn hóa tinh thần là đời sống văn hóa.
Có những bộ phận (hoặc yếu tố) của văn hóa tinh thần không tham gia vào đời sống văn hóa. Đời sống văn hóa, nếu quan niệm theo nghĩa rộng thì đó là toàn bộ những yếu tố văn hóa hiện hữu trong đời sống con người. Hiểu theo nghĩa biện chứng hơn, đời sống văn hóa chính là sự tương tác giữa văn hóa và con người (quá trình con người tác động vào văn hóa và quá trình văn hóa tác động, thâm nhập vào con người). Khi con người tác động vào văn hóa là lúc con người sáng tạo ra văn hóa và làm biến đổi văn hóa; khi văn hóa tác động vào con người là lúc hình thành nhân cách.
Như vậy, đời 12 sống văn hóa là sự gắn bó giữa văn hóa và con người theo mối quan hệ hai chiều. Điều đó cũng có nghĩa là những yếu tố văn hóa không gắn với con người (kể cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) thì không trở thành đời sống văn hóa. Như vậy, con người không gắn với toàn bộ văn hóa nói chung mà thường gắn với một môi trường văn hóa cụ thể [23, tr13], [21, tr34].1: Nội dung cấu trúc đời sống văn hóa Cấu trúc bề mặt (diện mạo) Cấu trúc bề sâu của đời sống của đời sống văn hóa văn hóa Con người thực hiện các hoạt động Các yếu tố thuộc cấu trúc bề mặt là văn hóa thì khi đó con người có đời sự biểu hiện (thể hiện) các yếu tố sống văn hóa. Hoạt động văn hóa rất thuộc cấu trúc bề sâu (chỉ thông qua đa dạng, con người có khả năng tham hoạt động, người ta mới có thể hiểu gia vào tất cả các lĩnh vực văn hóa, do và đánh giá được nhận thức, tư đó, đời sống văn hóa cũng rất đa dạng.
tưởng, tình cảm của một người hay Tuy nhiên, có thể khái quát các hoạt một nhóm người như thế nào); điều động văn hóa thành ba nhóm: đó cũng có nghĩa rằng, các yếu tố - Các hoạt động tiếp nhận - hưởng thụ thuộc cấu trúc bề mặt có tác dụng văn hóa; làm hình thành các yếu tố thuộc cấu - Các hoạt động thực hành - truyền bá trúc bề sâu: văn hóa; - Các giá trị nhận thức - Các hoạt động sáng tạo văn hóa. - Các giá trị tư tưởng - Các giá trị tình cảm [Nguồn: [23,tr13], [21,tr34]] Tác giả Nguyễn Hữu Thức cho rằng: Đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người. 13 Tác giả luận văn xem đây là khái niệm công cụ để làm cơ sở lý luận triển khai luận văn. - Đời sống văn hóa cơ sở ĐSVH luôn diễn ra trong một không gian dân cư nhất định.
Ở không gian hẹp, đó là các nhóm gia đình, bạn bè, nhóm lao động, học tập…; ở không gian rộng, đó là một cộng đồng xã hội, cộng đồng tộc người, cộng đồng làng, xã… Bởi vậy, khi nói đến ĐSVH, người ta luôn phải gắn thêm danh từ chỉ một không gian dân cư nào đó để xác định kiểu dạng, kích thước của ĐSVH. Thỏa mãn nhu cầu văn hóa cho mọi người dân là việc làm tất yếu mà bất cứ xã hội nào muốn tồn tại đều phải tiến hành. Tuy nhiên, cũng như mọi nhu cầu cơ bản khác, nhu cầu văn hóa chỉ có thể trở thành hiện thực khi con người cùng đồng loại tổ chức tiến hành các hoạt động sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm văn hóa. ĐSVHCS là một biện pháp tạo ra môi trường cho các cá nhân thoả mãn được nhu cầu tinh thần của chính họ.
Điều đáng chú ý là trong việc xác định môi trường thỏa mãn nhu cầu văn hóa cho nhân dân, chúng ta đã rất sáng suốt khi nhấn mạnh vào dạng địa bàn cơ sở là các cộng đồng làng, bản, những nhóm cư trú địa vực đã có thời gian tồn tại lâu dài trong lịch sử ở những vùng nông thôn [1, tr 34]. Ở mỗi giai đoạn phát triển, Đảng ta lại có định hướng tập trung vào một số địa bàn, đơn vị cơ sở tùy theo những yêu cầu, điều kiện khách quan của sự phát triển xã hội như: ở giai đoạn đầu, quan niệm về địa bàn ĐSVH chỉ là xã, phường, xí nghiệp, các đơn vị trường học, công nông lâm trường… ở giai đoạn hiện nay là các làng, bản, thôn, ấp, gia đình. Sự thay đổi quan niệm nói trên không chỉ cho thấy sự linh hoạt trong đường lối lãnh đạo mà còn chứng tỏ thái độ nghiêm túc, khoa học của Đảng trong việc định hướng phát triển văn hóa nói riêng, xã hội nói chung. 14 Như vậy, ĐSVHCS có thể hiểu là các điều kiện vật chất, các sản phẩm văn hóa, hoạt động văn hóa, các thiết chế văn hóa… ở đơn vị cơ sở được con người nhận thức và thực thi một cách tự giác, rõ ràng, có kế hoạch cụ thể nhằm xây dựng một ĐSVH lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân trên từng địa bàn dân cư cụ thể.
- Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Xây dựng ĐSVHCS được gắn kết từ cụm từ “xây dựng” và “ĐSVHCS”, Từ điển tiếng Việt giải thích: “Xây dựng là làm nên một công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định” [32, tr 302]. Trong lĩnh vực văn hóa, xây dựng được hiểu là tổng hợp những hoạt động của các cơ quan quản lý các cấp tuyên truyền, phổ biến, định hướng, triển khai nội dung về văn hóa nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân, xây dựng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở không chỉ diễn ra trong một không gian dân cư sinh sống nhất định mà còn ở các cơ quan, đơn vị, trường học, doanh nghiệp. Mỗi đơn vị, địa phương lại có những cách triển khai thực hiện khác nhau cho phù hợp [2, tr40].
Xây dựng ĐSVHCS là phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tạo dựng một lối sống văn minh, lịch sự, những phong tục, tập quán tốt đẹp, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa phù hợp với trào lưu văn hóa tiến bộ của nhân loại.