Tổng quan luận án
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 53 dân tộc thiểu số cùng chung sống. Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định công tác dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược. Nhằm hiện thực hóa các chủ trương phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, việc xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được xác định là khâu then chốt, bảo đảm quyền bình đẳng chính trị và thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương.
Nghệ An là tỉnh có địa bàn miền núi rộng lớn, bao gồm 10 huyện và 1 thị xã miền núi, chiếm 83,31% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh. Địa bàn này gồm 101 xã khu vực III, 61 xã khu vực II, 90 xã khu vực I, 1.188 thôn bản đặc biệt khó khăn và 27 xã biên giới với 419 km đường biên tiếp giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Địa phương có 3 huyện được đầu tư theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và 1 huyện được hưởng cơ chế chính sách như Nghị quyết 30a. Tính đến năm 2014, dân số các huyện miền núi Nghệ An là 1.628.000 người (chiếm 41% dân số toàn tỉnh), trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 442.787 người (chiếm 15,2% dân số toàn tỉnh và 36% dân số khu vực miền núi).
Mặc dù có vị trí chiến lược trọng yếu về quốc phòng, an ninh và kinh tế, vùng miền núi Nghệ An đối mặt với địa hình hiểm trở, hạ tầng yếu kém và chỉ số phát triển con người (HDI) thấp. Thực tiễn công tác cán bộ người dân tộc thiểu số tại đây bộc lộ nhiều bất cập: số lượng chưa đáp ứng nhu cầu, chất lượng không đồng đều, năng lực thực tiễn của một bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động chia rẽ khối đại đoàn kết. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần có một công trình tổng kết toàn diện, có hệ thống dưới góc độ Lịch sử Đảng về quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015.
Mục đích nghiên cứu:
Luận án làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015, từ đó rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng để thực hiện tốt hơn công tác này trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Khái quát những yếu tố tác động đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An từ năm 1996 đến năm 2015 (chia thành 2 giai đoạn: 1996 - 2005 và 2006 - 2015).
- Hệ thống hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói chung và đối với miền núi nói riêng từ năm 1996 đến năm 2015.
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi trong 20 năm (1996 - 2015).
- Phân tích những thành công, ưu điểm và hạn chế, khiếm khuyết; rút ra những kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi.
Đối tượng nghiên cứu:
Quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị (gồm tổ chức Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên) ở cấp huyện và cấp xã; nghiên cứu các khâu: chỉ đạo quy hoạch, tạo nguồn; đào tạo, bồi dưỡng; tiếp nhận, tuyển dụng, thực hiện chế độ chính sách và đánh giá, kiểm tra, kỷ luật.
- Về không gian: Địa bàn 10 huyện miền núi tỉnh Nghệ An ở cả cấp huyện và cấp xã, bao gồm: Tương Dương, Quế Phong, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Anh Sơn.
- Về thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2015, trải qua 4 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An: khóa XIV (1996 - 2000), khóa XV (2001 - 2005), khóa XVI (2005 - 2010) và khóa XVII (2010 - 2015).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan nghiên cứu trong luận án được phân tích theo hai nhóm công trình chính:
Các công trình nghiên cứu về dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam
- Về kinh tế - xã hội và vai trò cán bộ: Bế Viết Đẳng (chủ biên, 1996) với Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi; Lê Du Phong, Nguyễn Đình Phan, Dương Thị Thanh Mai (đồng chủ biên, 1998) với Phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các công trình này chỉ rõ sự thiếu hụt nhân lực và định hướng giải pháp xây dựng cán bộ tại chỗ.
- Về thực trạng và đào tạo cán bộ: Cư Hoà Vần (2001) đánh giá thực trạng cán bộ dân tộc thiểu số vừa thiếu vừa yếu về trình độ học vấn; Nguyễn Minh Hiển (2001) phân tích sự phát triển giáo dục - đào tạo, nhấn mạnh chính sách ưu tiên cộng điểm và mở lớp riêng; Lê Minh Hương (2001) khẳng định vị trí quốc phòng - an ninh của miền núi và yêu cầu đào tạo cán bộ dài hạn; Phan Hữu Dật (2001) phân tích tính cấp bách của quan hệ dân tộc và công tác cán bộ; Trịnh Quang Cảnh (2002) nghiên cứu trí thức dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới.
- Về cơ chế, chính sách và tạo nguồn: Nguyễn Ngọc Hà (2002) bàn về đổi mới đào tạo theo hướng nâng cao năng lực thực tiễn; Nguyễn Thị Mỹ Trang và Lại Thị Thu Hà (2005), Tráng A Pao (2005) nghiên cứu chính sách cử tuyển; Ngô Đức Thịnh (2006) tiếp cận góc độ văn hóa tộc người; Ksor Phước (2006) tổng kết 20 năm đổi mới công tác dân tộc, nêu tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số từ 10,2% khóa I lên 17,2% khóa XI, Ủy viên Trung ương khóa X đạt gần 9%; Nguyễn Hữu Ngà (2005), Lê Phương Thảo (2005), Phạm Hồng Quang (2007) bàn về mô hình bồi dưỡng và chuẩn hóa cán bộ; Hoàng Chí Bảo (2009) nghiên cứu bình đẳng dân tộc; Vàng Xín Dư (2009) chia sẻ kinh nghiệm quy hoạch cán bộ tại Hà Giang.
- Các đề tài và luận án chuyên sâu: Nguyễn Văn Tý (2010) nghiên cứu nâng cao tư duy lý luận cho cán bộ cấp huyện ở Tây Nguyên; Giàng Seo Phử (2010), Bùi Đình Bôn (2011) tổng kết 25 năm thực hiện chính sách dân tộc; Nguyễn Thành Dũng (2012) nghiên cứu cán bộ chủ chốt cấp huyện Tây Nguyên; Đặng Văn Trọng (2012) nghiên cứu xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng (1996 - 2006); Nguyễn Thị Ngân (2013), Đỗ Thị Thạch (2013), Nguyễn Dương Hùng (2013) đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX; Trương Thị Bạch Yến (2014) nghiên cứu tạo nguồn cán bộ xã tại Tây Nguyên.
Các công trình nghiên cứu về miền núi và cán bộ dân tộc thiểu số tại tỉnh Nghệ An
- Văn kiện, tổng kết của địa phương: Ban Dân tộc và Miền núi Nghệ An (1992, 2002) xuất bản các tập hợp chính sách và số liệu phát triển miền núi; Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Nghệ An (2005) với Nghệ An - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI; Kỷ yếu Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An lần thứ nhất (2009); Lương Thanh Hải (2016) tổng kết 70 năm cơ quan công tác dân tộc Nghệ An.
- Nghiên cứu kinh tế - xã hội, nhân lực và cải cách: Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997) tiếp cận sinh thái nhân văn vùng Tây Nam Nghệ An; Đoàn Minh Duệ và Đinh Thế Định (2003) nghiên cứu mối quan hệ kinh tế - xã hội Bắc Trung Bộ; Trần Quang Nhiếp (2003) khảo sát cán bộ cơ sở Nghệ An khóa 2001 - 2005 (toàn tỉnh có 3.102 cán bộ chủ chốt cơ sở, trong đó 0,16% tiểu học, 24,7% THCS, 75,66% THPT, 49% có chuyên môn qua đào tạo); Hoàng Xuân Lương (2004) nghiên cứu mô hình giảm nghèo cho đồng bào Khơ Mú; Đỗ Quang Hưng (2006) đề xuất 6 giải pháp dạy nghề miền núi; UBND tỉnh Nghệ An (2008) tổ chức hội thảo thực hiện Quyết định số 147/QĐ-TTg về miền Tây Nghệ An; Nguyễn Thế Trung (2009), Trần Văn Hằng (2010) nêu giải pháp phát triển nhân lực và kinh tế miền Tây; Đặng Văn Trọng (2010) nghiên cứu cán bộ dân tộc thiểu số trong Bộ đội Biên phòng Nghệ An; Đinh Thế Định (2012) nghiên cứu cải cách hành chính tại huyện Quế Phong; Mai Chi (2014) thực hiện luận án về Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo chính sách xã hội miền núi (2001 - 2010).
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trên đã cung cấp bức tranh toàn cảnh về lý luận và thực tiễn nhưng phần lớn tiếp cận dưới góc độ kinh tế, xã hội học, giáo dục học hoặc chỉ nghiên cứu một địa bàn hẹp, một lực lượng chuyên biệt hay một giai đoạn ngắn. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống dưới góc độ Lịch sử Đảng về quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong toàn bộ hệ thống chính trị tại 10 huyện miền núi trong giai đoạn 1996 - 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khái niệm công cụ
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ, công tác cán bộ và chính sách dân tộc (Cương lĩnh năm 1930, Nghị quyết Đại hội I năm 1935, Nghị quyết Trung ương tháng 4/1947, Nghị quyết số 22-NQ/TW năm 1989 của Bộ Chính trị, các Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX năm 2003).
- Các khái niệm cơ bản được xác lập:
- Cán bộ cấp huyện, cấp xã: Những công dân được bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ hoặc trong biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước tại cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện và cấp xã.
- Cán bộ người dân tộc thiểu số: Những cán bộ có thành phần xuất thân (có cha, mẹ hoặc cha/mẹ đẻ) thuộc 53 dân tộc thiểu số tại Việt Nam ngoài dân tộc Kinh (như Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu...).
- Cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị: Những người công tác trong tổ chức xác định của hệ thống chính trị (Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội), xuất thân từ các dân tộc thiểu số, có quyền hạn, trách nhiệm được giao, đáp ứng tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ năng lực.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ yếu: Phương pháp lịch sử (tái hiện tiến trình lãnh đạo theo trình tự thời gian, gắn liền với các kỳ đại hội và bối cảnh lịch sử cụ thể) kết hợp phương pháp lôgíc (khái quát các mối liên hệ bản chất, quy luật vận động và bài học kinh nghiệm).
- Phương pháp liên ngành: Phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh dữ liệu qua các thời kỳ, điều tra khảo sát thực địa tại 10 huyện miền núi, phương pháp tổng kết thực tiễn và phỏng vấn chuyên gia, cán bộ quản lý.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Dân tộc.
- Văn kiện Đảng bộ tỉnh Nghệ An qua các nhiệm kỳ XIV, XV, XVI, XVII; các nghị quyết chuyên đề, đề án của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; báo cáo định kỳ và chuyên đề của UBND tỉnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An.
- Báo cáo thống kê, tài liệu lưu trữ từ Huyện ủy, UBND và Phòng Nội vụ của 10 huyện miền núi; tư liệu lịch sử địa phương và kết quả khảo sát thực tế của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá các công trình khoa học trong nước theo hai nhóm vấn đề: các nghiên cứu về dân tộc thiểu số và cán bộ dân tộc thiểu số trên quy mô cả nước; các công trình nghiên cứu về địa bàn miền núi và cán bộ dân tộc thiểu số tại tỉnh Nghệ An. Tác giả chỉ ra các kết quả đã đạt được về mặt lý luận và thực tiễn, phân tích những khía cạnh chưa được làm rõ, từ đó xác định tính cấp thiết và các vấn đề luận án tập trung giải quyết dưới chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2005
1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An
Giai đoạn sau khi tái lập tỉnh (tháng 8/1991), Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối mặt với nhiều khó khăn ở vùng miền núi. Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TU (1991), Nghị quyết số 14 (1994) về phát triển kinh tế - xã hội miền núi và Nghị quyết ngày 12/3/1995 về củng cố tổ chức cơ sở Đảng. Ngày 04/3/1994, Ủy ban Dân tộc và Miền núi ban hành Quyết định số 08/UB-QĐ công nhận các xã, huyện miền núi, vùng cao của Nghệ An.
Khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số giai đoạn 1991 - 1995 cho thấy:
| Tiêu chí |
Vùng núi thấp (Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Thanh Chương, Tân Kỳ) |
Vùng núi cao (Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quế Phong) |
| Tỷ lệ cán bộ DTTS cấp huyện |
Không quá 10% |
Trên 30% |
| Tỷ lệ cán bộ DTTS cấp xã |
Không quá 30% |
Trên 60% |
| Tỷ lệ cán bộ nữ DTTS |
Chung toàn vùng: dưới 3% |
Chung toàn vùng: dưới 3% |
| Cơ cấu thành phần dân tộc |
Không đồng đều |
27 xã vùng cao: Thái chiếm >46%, Mông chiếm 30,8% |
| Học vấn cấp huyện (1995) |
THPT chiếm 33,2%; THCS chiếm 66,8% (toàn vùng) |
THPT chiếm 33,2%; THCS chiếm 66,8% (toàn vùng) |
| Chuyên môn cấp huyện (1995) |
Gần 90% chưa qua đào tạo; CĐ-ĐH chiếm >10% |
Gần 90% chưa qua đào tạo; CĐ-ĐH chiếm >10% |
| Chuyên môn cấp xã (1995) |
97% chưa qua đào tạo; 0% có bằng CĐ-ĐH |
97% chưa qua đào tạo; 0% có bằng CĐ-ĐH |
| Chưa đào tạo LLCT cấp huyện |
Anh Sơn: 73%; Thanh Chương: 74% |
Kỳ Sơn: 77% |
| Chưa đào tạo LLCT cấp xã |
Anh Sơn: 92%; Thanh Chương: 89% |
Kỳ Sơn: 96% |
Giai đoạn 1996 - 2005, quán triệt Nghị quyết Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX (2003), Đảng bộ tỉnh Nghệ An (khóa XIV, XV) đã ban hành các chủ trương phát triển toàn diện miền núi, tập trung xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.
2. Quá trình chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số
- Quy hoạch, tạo nguồn: Các cấp ủy rà soát, lập danh sách quy hoạch gắn với các trường phổ thông dân tộc nội trú, thực hiện chỉ tiêu cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào các trường đại học, cao đẳng (bình quân 50 chỉ tiêu/năm trong giai đoạn đầu).
- Đào tạo, bồi dưỡng: Phối hợp Trường Chính trị tỉnh và Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện mở các lớp đào tạo lý luận chính trị - hành chính, bổ túc văn hóa và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ gắn với đặc thù miền núi.
- Tuyển dụng, bố trí và thực hiện chính sách: Thực hiện tuyển dụng cán bộ qua đào tạo, ưu tiên bố trí cán bộ người dân tộc tại chỗ; thực hiện chế độ phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút cho cán bộ công tác tại vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi đáp ứng tình hình mới từ năm 2006 đến 2015
1. Yêu cầu mới và chủ trương giai đoạn 2006 - 2015
Bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Đại hội XI của Đảng đòi hỏi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực miền núi. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (khóa XVI, XVII) ban hành các nghị quyết chuyên đề, đề án phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An gắn với việc triển khai Quyết định số 147/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP. Chủ trương của Tỉnh ủy nhấn mạnh việc chuẩn hóa cán bộ theo chức danh, nâng cao tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số có trình độ chuyên môn đại học và lý luận chính trị trung cấp, cao cấp.
2. Quá trình chỉ đạo thực hiện (2006 - 2015)
- Chỉ đạo quy hoạch và tạo nguồn: Đưa công tác quy hoạch vào nền nếp theo phương châm "động" và "mở", bảo đảm cơ cấu 3 độ tuổi, chú trọng tăng tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người (như Khơ Mú, Ơ Đu).
- Chỉ đạo đào tạo, bồi dưỡng: Đa dạng hóa hình thức đào tạo (chính quy, tại chức, đào tạo theo địa chỉ); kết hợp đào tạo chuyên môn chuyên ngành với bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số. Tỷ lệ cán bộ cấp huyện và cấp xã đạt chuẩn trình độ tăng rõ rệt so với giai đoạn trước.
- Chỉ đạo tiếp nhận, tuyển dụng, thực hiện chính sách và đánh giá, kiểm tra: Tuyển dụng chặt chẽ theo vị trí việc làm; thực hiện các chính sách ưu đãi về nhà ở công vụ, luân chuyển cán bộ từ đồng bằng lên miền núi và ngược lại; siết chặt kỷ luật, định kỳ đánh giá chất lượng gắn với kiểm tra, giám sát của cấp ủy Đảng.
Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
1. Nhận xét quá trình lãnh đạo (1996 - 2015)
- Ưu điểm: Đảng bộ tỉnh đã nhận thức đúng đắn và cụ thể hóa kịp thời các nghị quyết của Trung ương; số lượng cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị tăng đều qua các nhiệm kỳ; cơ cấu thành phần dân tộc từng bước được điều chỉnh hợp lý hơn; trình độ học vấn, chuyên môn và lý luận chính trị được chuẩn hóa; năng lực lãnh đạo, quản lý và điều hành của bộ máy chính quyền, đoàn thể cơ sở vùng miền núi được nâng lên.
- Hạn chế, khiếm khuyết: Tỷ lệ cán bộ nữ người dân tộc thiểu số và cán bộ thuộc các dân tộc ít người (Khơ Mú, Ơ Đu) vẫn còn thấp; sự phân bố cán bộ giữa vùng núi cao và vùng núi thấp còn chênh lệch; chất lượng chuyên môn sâu và năng lực tham mưu của một bộ phận cán bộ cấp xã chưa đồng đều; công tác quy hoạch ở một số nơi còn mang tính hình thức, bị động.
- Nguyên nhân: Do điểm xuất phát kinh tế - xã hội miền núi thấp, địa hình chia cắt, giao thông cách trở; nguồn ngân sách địa phương hạn hẹp; một số cấp ủy cơ sở chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác cán bộ dân tộc thiểu số; cơ chế, chính sách đãi ngộ đôi lúc chưa đủ sức thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.
2. Năm kinh nghiệm chủ yếu
- Quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vào điều kiện cụ thể của địa phương: Bám sát đặc thù tự nhiên, xã hội và phong tục tập quán của từng vùng đồng bào miền núi Nghệ An để xây dựng chương trình, đề án sát thực tế.
- Xác định đúng vai trò của các đảng bộ cơ sở trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị: Cấp ủy cơ sở là nơi trực tiếp phát hiện, bồi dưỡng, quản lý và sử dụng cán bộ; cần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng tại các thôn bản, xã vùng cao.
- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số và tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị: Khắc phục tư tưởng chủ quan, định kiến, thực hiện bình đẳng dân tộc trên phương diện chính trị.
- Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị: Tạo sự đồng bộ giữa cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cơ sở đào tạo và cơ quan chuyên môn làm công tác dân tộc.
- Các cấp ủy Đảng và chính quyền cần chú trọng phát triển kinh tế, xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số: Gắn phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, giảm nghèo với tạo nguồn cán bộ; phát huy tiếng nói của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng để củng cố hệ thống chính trị cơ sở.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về phương diện khoa học và lịch sử: Dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, luận án là công trình khoa học đầu tiên tái hiện một cách hệ thống, toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở 10 huyện miền núi giai đoạn 1996 - 2015.
- Về tổng kết thực tiễn: Luận án đánh giá khách quan các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình triển khai các khâu của công tác cán bộ (quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng và chính sách đãi ngộ) tại địa bàn có đường biên giới phức tạp và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao.
- Về lý luận và kinh nghiệm: Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị khoa học, cung cấp luận cứ cho việc tiếp tục hoàn thiện đường lối xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới.
- Về kiến nghị thực tiễn: Luận án đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới quy hoạch, nâng cao chất lượng đào tạo theo địa chỉ, hoàn thiện cơ chế cử tuyển và chính sách đặc thù cho cán bộ công tác tại các xã biên giới, vùng đặc biệt khó khăn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian 1996 - 2015 và địa bàn 10 huyện miền núi của tỉnh Nghệ An; đối tượng khảo sát tập trung vào cán bộ trong hệ thống chính trị ở cấp huyện và cấp xã. Các tư liệu thống kê chủ yếu dựa trên các văn bản lưu trữ và báo cáo của các cơ quan chức năng địa phương đến thời điểm năm 2015.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu giai đoạn từ năm 2015 đến nay để đánh giá tác động của các chính sách dân tộc mới; thực hiện các nghiên cứu so sánh đối sánh giữa Đảng bộ tỉnh Nghệ An với các tỉnh miền núi phía Bắc hoặc khu vực Tây Nguyên; đi sâu nghiên cứu cơ cấu cán bộ của từng nhóm dân tộc thiểu số đặc thù (như người Đan Lai, Ơ Đu, Khơ Mú).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Quản lý công, Dân tộc học và Chính trị học.
- Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên làm công tác tham mưu tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Ban Dân tộc, Phòng Nội vụ các huyện miền núi tỉnh Nghệ An và các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.
- Phần nội dung đáng tham khảo:
- Hệ thống tư liệu thống kê thực trạng cán bộ miền núi giai đoạn 1991 - 1995 và tiến trình phát triển nhân lực giai đoạn 1996 - 2015.
- Các kinh nghiệm thực tiễn về phối hợp các ban ngành trong công tác quy hoạch, tạo nguồn và thực hiện chính sách cử tuyển, đào tạo cán bộ cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định đối tượng cán bộ người dân tộc thiểu số gồm những thành phần dân tộc nào tại miền núi Nghệ An?
Luận án xác định cán bộ người dân tộc thiểu số là những cán bộ có cha, mẹ hoặc cha/mẹ đẻ thuộc các dân tộc thiểu số. Tại 10 huyện miền núi Nghệ An, các thành phần dân tộc thiểu số chủ yếu được phản ánh trong hệ thống chính trị gồm: Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu...
2. Thực trạng trình độ học vấn và chuyên môn của cán bộ người dân tộc thiểu số cấp xã ở các huyện miền núi Nghệ An năm 1995 như thế nào?
Tính đến năm 1995, trình độ của cán bộ người dân tộc thiểu số cấp xã rất thấp: 97% cán bộ cấp xã chưa qua một trường lớp đào tạo nào về chuyên môn, nghiệp vụ và 100% cán bộ cấp xã chưa có bằng đại học, cao đẳng.
3. Tình hình đào tạo lý luận chính trị của cán bộ người dân tộc thiểu số cấp cơ sở năm 1995 ra sao?
Có trên 90% cán bộ người dân tộc thiểu số cấp cơ sở chưa qua đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Tỷ lệ chưa qua đào tạo lý luận chính trị ở cấp xã tại một số huyện cụ thể: Kỳ Sơn là 96%, Anh Sơn là 92%, Thanh Chương là 89%.
4. Luận án nghiên cứu công tác cán bộ trong những tổ chức nào thuộc hệ thống chính trị?
Luận án nghiên cứu cán bộ người dân tộc thiểu số trong toàn bộ hệ thống chính trị tại cấp huyện và cấp xã, bao gồm: tổ chức Đảng, cơ quan Chính quyền (HĐND, UBND), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh).
5. Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu nào qua 20 năm lãnh đạo (1996 - 2015)?
Luận án đúc kết 5 kinh nghiệm: vận dụng sáng tạo chủ trương Trung ương vào địa phương; xác định đúng vai trò của đảng bộ cơ sở; nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền về công tác cán bộ dân tộc; tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chú trọng phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số.
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Cao Nguyên đã phục dựng toàn diện và khoa học tiến trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015. Thông qua nguồn tư liệu lưu trữ phong phú và phương pháp lịch sử - lôgíc, công trình đã làm rõ sự phát triển về quy mô, chất lượng cũng như những chuyển biến tích cực trong phương thức quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ qua 4 nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh. Đồng thời, các bài học kinh nghiệm được đúc kết từ thực tiễn miền núi Nghệ An có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, phục vụ thiết thực cho công tác hoạch định chính sách cán bộ và phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay.