Chương 1: Tổng quan về đảng phái trong hệ thống chính trị Mỹ Chương 2: Hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa từ năm 2001 đến nay Chương 3: Một số nhận xét về hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa 6 Footer Page 14 of 107. Header Page 15 of 107. Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẢNG PHÁI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỸ 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Hệ thống chính trị Mỹ Năm 1768, cuộc đấu tranh giành độc lập của Mỹ dưới sự lãnh đạo của George Washington bắt đầu. Năm 1776, Đại hội Lục địa tại Philadenphia đã thông qua bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, tuyên bố thành lập nhà nước Liên bang gồm 13 bang đầu tiên. Vào giai đoạn này, cơ cấu liên bang còn rất lỏng lẻo, chỉ là một hợp bang, hay một liên minh hữu nghị giữa các bang được thành lập. Trung tâm của liên minh này là Quốc hội một viện, được gọi là Đại hội hợp bang.
Mỗi bang có một phiếu, không phụ thuộc vào quy mô của bang. Các hoạt động quan trọng đều phải cần đến sự đồng thuận của ít nhất 9 bang và đối với các nội dung trong điều khoản liên bang phải do cả 13 bang đồng ý [15, 227]. Hợp bang không có cơ quan hành pháp và hệ thống tòa án, Quốc hội không có khả năng đánh thuế, mà chỉ được yêu cầu các bang hỗ trợ ngân quỹ. Mỗi bang vẫn giữ chủ quyền, tự do và độc lập.
Quốc hội cũng không có quyền hạn trực tiếp nào đối với các công dân. Đứng trước những vấn đề đó, mùa hè năm 1787, một Hội nghị lập hiến được triệu tập với sự tham dự của các đại biểu của 13 bang để soạn thảo Hiến pháp mới cho nước Mỹ, đến tháng 6 – 1788, sau khi đã có tối thiểu 9 chữ ký, Hiến pháp mới chính thức có hiệu lực. Đây cũng là thời điểm chính thức đánh dấu sự ra đời của hệ thống chính trị Mỹ. Hệ thống chính trị Mỹ hiện nay gồm hai bộ phận cấu thành chính là thể chế và thiết chế.
Thể chế gồm các loại định chế như: Hiến pháp, pháp luật và cá quy định hành chính trong đó Hiến pháp là định chế quan trọng nhất. Hiến pháp có vị trí quan trọng số một trong các loại hình định chế vì nó là văn bản pháp lý chứa đựng những thỏa thuận chung nhất giữa các lực lượng chính trị, những thỏa thuận này được coi như những nguyên tắc để xây dựng lên toàn 7 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107. bộ hệ thống chính trị Liên bang Mỹ.
Thiết chế gồm hai bộ phận: thiết chế chính thức, đó là bộ máy công quyền và thiết chế phi chính thức, đó là các đảng phái chính trị, các nhóm lợi ích, các phong trào chính trị… Theo Hiến pháp, Nhà nước Liên bang Hoa kỳ gồm 3 bộ phận: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi bộ phận có chức năng và quyền hạn độc lập với nhau. Hệ thống chính trị của Mỹ hiện nay có nhiều điểm khác biệt so với thời kỳ mới hình thành nước Mỹ, tuy nhiên, những nguyên tắc cơ bản, những bộ phận cấu thành chủ yếu được hình thành từ khi lập nước vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Ngành lập pháp Trong hệ thống chính trị Mỹ, ngành lập pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng thể chế để quản lý xã hội và kiềm chế - đối trọng với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị.
Theo quy định của Hiến pháp Mỹ, Quốc hội đóng vai trò là trung tâm của hệ thống chính trị, có những quyền lực rất lớn, như quyền làm ra luật cho toàn quốc, quyền sửa đổi điều luật, giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp, tư pháp và các tổ chức chính trị khác. Quốc hội Mỹ là một thể chế lưỡng viện, gồm hai nhánh: Thượng viện và Hạ viện. + Thượng viện có quy chế làm việc tự do hơn so với Hạ viện. Quy mô của Quốc hội Mỹ phát triển theo quy mô phát triển của đất nước.
Với quy chế mỗi bang chỉ có hai thượng nghị sĩ, Quốc hội đầu tiên của Mỹ chỉ có 26 thành viên. Khi có một bang mới, Thượng viện sẽ tăng thêm 2 thành viên và vì vậy, Thượng viện Mỹ hiện nay có 100 thượng nghị sĩ được bầu từ 50 bang khác nhau. Ứng cử viên Thượng viện phải từ 30 tuổi trở lên, là công dân Mỹ ít nhất 9 năm và là người cư trú tại chính bang mà họ đại diện. Các khu hành chính trực thuộc không có đại diện tại Thượng viện.
Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và được bầu lại bởi cử tri các bang. Cứ hai năm một lần, Thượng viện tổ chức bầu cử lại 1/3 số thượng nghị sĩ. Về mặt pháp lý, Phó 8 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107.
Tổng thống đồng thời là Chủ tịch Thượng viện. Song trên thực tế, điều hành công việc hàng ngày của Thượng viện là thủ lĩnh phe đa số trong Thượng viện. Phó Tổng thống chỉ bỏ phiếu khi cần thiết để tránh bế tắc, trong trường hợp Thượng viện rơi vào tình huống 50/50 về một vấn đề nào đó [57]. + Hạ viện: So với Thượng viện, Hạ viện có quy mô lớn hơn.
Quốc hội đầu tiên của Mỹ có 67 hạ nghị sĩ. Do dân số tăng lên, quy mô Hạ viện cũng tăng theo. Năm 1992, Quốc hội đã thông qua một đạo luật quy định số lượng thành viên cố định của Hạ viện là 435 hạ nghị sĩ [15, 246]. Khác với Thượng viện, ứng cử viên Hạ viện phải là công dân Mỹ từ 25 tuổi trở lên, đã có 7 năm mang Quốc tịch Mỹ và là công dân của bang mà họ đại diện trước ngày bầu cử.
Hạ viện có nhiệm kỳ hai năm và các nghị sĩ được bầu lên từ các đơn vị bầu cử của bang. Số hạ nghị sĩ đại diện cho bang phụ thuộc vào dân số của bang. Mỗi bang có quyền có tối thiểu một hạ nghị sĩ. Việc phân bổ số hạ nghị sĩ cho các bang được tiến hành 10 năm một lần dựa trên kết quả điều tra dân số.
Đứng đầu Hạ viện là Chủ tịch Hạ viện. Chủ tịch Hạ viện có thể là người có thế lực lớn thứ hai trong nền chính trị Mỹ sau Tổng thống. Với tư cách là người đứng đầu phe đa số, Chủ tịch Hạ viện có vai trò thúc đẩy, hoặc loại bỏ một số dự luật không có lợi cho đảng của mình. Cả hai viện đều có quyền quyết định chiến tranh, kiểm soát các lực lượng vũ trang, đánh thuế, vay tiền, phát hành tiền, điều tiết thương mại, và ban hành luật cần thiết cho hoạt động của chính quyền.
Trong đó, Thượng viện có đặc quyền cố vấn, thông qua các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài và các chức vụ do Tổng thống bổ nhiệm. Ví dụ, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được Chính phủ hai nước ký tháng 7 năm 2000 và đến tháng 11 năm 2001 mới được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua và đến 10/12/2001 mới có hiệu lực thi hành. Cả Thượng viện và Hạ viện đều có những Uỷ ban riêng của mình. Tuy nhiên, giữa Thượng viện và Hạ viện có một số uỷ ban phối hợp để xử lý một 9 Footer Page 17 of 107.
Header Page 18 of 107. số công việc chung. Cả Thượng viện và Hạ viện đều có quyền đưa ra văn bản pháp lý về bất cứ vấn đề gì, trừ các dự luật về thu ngân sách là phải bắt nguồn từ Hạ viện. Các bang lớn bề ngoài dường như có nhiều ảnh hưởng đối với công quỹ hơn so với bang nhỏ.
Thượng viện có thể không tán thành một dự luật về thu ngân sách của Hạ viện, hoặc bất kỳ một dự Luật nào liên quan đến vấn đề này. Trong trường hợp đó, một tiểu ban tham vấn sẽ được thành lập, gồm các thành viên của cả hai viện, để đi tới một thỏa hiệp có thể chấp nhận đối với cả hai bên, trước khi dự luật trở thành luật. Thượng viện có quyền xác nhận sự bổ nhiệm của Tổng thống đối với các quan chức cấp cao và các đại sứ của chính quyền liên bang, cũng như phê chuẩn tất cả các hiệp ước với 2/3 số phiếu thuận. Khi đó, hành động không ủng hộ của Thượng viện sẽ vô hiệu hóa hành động của ngành hành pháp.
Hạ viện có toàn quyền đưa ra lời buộc tội về hành vi bất chính có thể dẫn tới việc xét xử ở tòa án. Khi ấy, Thượng viện cũng có toàn quyền kiểm tra những trường hợp luận tội và xác minh xem các quan chức là có tội, hay vô tội. Các quan chức liên bang sẽ buộc phải rời khỏi cơ quan nhà nước khi bị phát hiện là phạm tội. + Quyền hạn của Quốc hội Quốc hội là nơi diễn ra các sự thỏa hiệp của các đảng chính trị, do chính trị quyết định, hay nói một cách khác, hoạt động của nó luôn phụ thuộc vào từng cơ quan, lực lượng chính trị, mà hai Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đóng vai trò quyết định.
Hiến pháp Mỹ trao cho Quốc hội quyền hành rất lớn, đó là quyền lập pháp, quyền sửa đổi hiến pháp và pháp luật. Điều I, mục 8 của Hiến pháp Hoa Kỳ đã quy định quyền hạn rộng lớn của Quốc hội như sau [55]: + Đánh thuế và thu thuế; vay tiền cho công quỹ; thiết lập các luật lệ và các quy chế điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các bang và với nước ngoài; thiết lập các quy định thống nhất cho việc nhập tịch của công dân nước ngoài; thiết lập hệ thống tòa án liên bang; tuyên bố chiến tranh, và một số quyền lực khác… 10 Footer Page 18 of 107. Header Page 19 of 107. Ngoài ra, hiến pháp cũng có những điều cấm cụ thể đối với những hoạt động nhất định của Quốc hội.
Quốc hội không được phép [55]: + Thông qua các luật trong đó lên án ai đó về sự phạm tội, hay hành vi phạm pháp, mà không thông qua tòa án; Đánh thuế trực thu lên công dân, trừ trường hợp dựa trên cơ sở một cuộc điều tra dân số đã được tiến hành; Đánh thuế hàng xuất khẩu từ bất cứ bang nào và nhiều điều cấm khác… Ngành hành pháp Vào thời tất cả các quốc gia lớn ở Châu Âu đều có chế độ quân chủ cha truyền con nối, thì ý tưởng về một vị Tổng thống với nhiệm kỳ có giới hạn tự nó đã mang tính cách mạng. Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1787 đã trao quyền hành pháp cho Tổng thống và đến tận ngày nay điều đó vẫn tiếp tục tồn tại.