đặt vấn đề ở góc độ ba bộ ở ba miền trong cả nước. Cùng với sự phát triển của mỗi giai đoạn cách mạng, Hiến pháp nước ta xác định đơn vị hành chính trong cả nước ngày càng rõ và phù hợp với điều kiện quản lý của cơ quan quyền lực nhà nước (hay quản lý nhà nước) hơn. Như Hiến pháp năm 1959 xaùc ñònh: nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn. Hiến pháp năm 1980: tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện 9 và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.
Điều 118, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, xác định: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường [30, tr. Như vậy, xét về quá trình phát triển, việc phân chia đơn vị hành chính nước ta, từng bước đã thể hiện rõ ở nước ta có 4 cấp hành chính: trung ương, tỉnh, huyện, xã và mỗi cấp đều có các đơn vị tương đương. Trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta, xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, có vai trò là nền tảng vững chắc của hệ thống đó. Đây là cấp giữ vị trí hết sức quan trọng; là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân sinh sống, nơi trực tiếp diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội; là nơi được tổ chức đầy đủ các tổ chức trong HTCT, tổ chức kinh tế, xã hội, nghề nghiệp.
Đồng thời, xã, phường, thị trấn còn là nơi vận động quần chúng nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ cấp trên giao và biến nghị quyết thành hiện thực sinh động; phát huy sức mạnh đại đoàn kết và quyền làm chủ của nhân dân. Coù theå noùi xaõ, phöôøng, thò traán laø moät hình aûnh cuûa moät xaõ hoäi thu nhoû. Thông qua HTCT, xã, phường, thị trấn, các cấp ủy và chính quyền cơ sở kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân phản ảnh với Đảng và Nhà nước, tạo nên cầu nối mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong lãnh đạo, quản lý nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Bên cạnh đó, đây là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và 10 từ ño ùđóng góp những kinh nghiệm quý báu, phát hiện, đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật phù hợp với cơ sở, với điều kiện khách quan của mỗi giai đoạn cách mạng và tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của quần chúng nhân dân.
Chính vì vậy, nói về vị trí, vai trò của cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tản của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [54, tr. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, đề cao các sáng kiến, sáng tạo từ cơ sở. Đảng ta còn nhấn mạnh cơ sở là nơi chính quyền trong lòng dân, nơi đưa đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống; phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội; giữ vững ổn định chính trị,v.v… Xét về mặt tổ chức Đảng, xã, phường, thị trấn (cấp cơ sở) là nơi thiết lập các tổ chức cơ sở đảng giữ vai trò là hạt nhân chính trị ở cơ sở, nơi tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng, nơi lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, nơi Đảng nắm và hiểu rõ tâm tư của nhân dân để phản ánh với Đảng.
Tóm lại, xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thiết lập và hoạt động của HTCT cơ sở và các tổ chức kinh tế, xã hội khác nhau, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức cơ sở ñảng. Xã, phường, thị trấn phát triển toàn diện và vững mạnh thì huyện mạnh; huyện mạnh thì tỉnh mạnh và tỉnh mạnh góp phần cùng cả nước phát triển mạnh, bền vững sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới. Ngược lại, cấp cơ sở yếu kém, không ổn định, phát triển thiếu bền vững, tình hình an ninh chính trị diễn biến phức tạp, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến huyện, thành phố và tỉnh. Điều 11 đó khẳng định chủ trương của Đảng ta hướng mạnh về cơ sở; khắc phục tình trạng hành chính hóa, xa dân, phô trương, hình thức laø ñuùng ñaén.
Cà Mau là một trong những tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu long, nằm ở phần đất cực nam của tổ quốc, có bờ biển dài 254 km, là vùng đất trẻ mới được mở mang khai khẩn cách đây khoảng trên 300 năm. Vào những năm cuối thể kỷ XVII, hưởng ứng sự chiêu mộ của Mạc Cửu, một di thần của nhà Minh bất phục triều đình Mãn Thanh, lưu trú tại Mang Khảm (Hà Tiên), một số lưu dân người Việt, người Hoa đã đến cư trú và làm ăn sinh sống, dựng thành một xã với tên gọi “xã” Cà Mau. Đầu thế kỷ XVIII, vùng đất này thuộc chúa Nguyễn quản lý, xã Cà Mau thuộc trấn Hà Tiên. Nửa đầu thế kỷ XVIII, lưu dân về đây sinh sống ngày càng ñoâng và đất đai được khai phá rộng thêm, phần đất thuộc các huyện phía trên Cà Mau hiện nay đã được khẩn hoang và thuộc địa giới của dinh Long Hồ.
Sau nửa cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, lưu dân tiếp tục đổ về đây khai hoang mở đất, do đó diện tích khai phá cũng ngày càng mở rộng. Dưới thời của Gia Long, vua Minh Mạng, xã Cà Mau được nâng lên thành huyện Long Xuyên, thuộc tỉnh Hà Tiên, còn vùng đất phía trên Cà Mau thì thuộc phủ Ba Xuyên, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi chiếm 3 tỉnh Miền tây Nam kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) vào năm 1867, thực dân Pháp bắt đầu chia nhỏ các tỉnh cũ nhằm mục đích dễ cai trị. Ngày 18/02/1882, tỉnh Bạc Liêu là tỉnh thứ 21 của Nam kỳ được thành lập gồm 4 quận và 1 thị xã: Cà Mau, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai và thị xã Bạc Liêu và tỉnh Bạc Liêu tồn tại đến tháng 8/1945.
Năm 1947, tỉnh Bạc Liêu bị thực dân Pháp tái chiếm và chính quyền thực dân Pháp sáp nhập huyện Phước Long của tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Bạc Liêu. Về phía chính quyền cách mạng, năm 1947 và 1948, sáp nhập 2 quận An Biên và Phước Long của tinh Rạch Giá vào tỉnh Bạc Liêu, đồng thời năm 1947 thành lập quận Ngọc Hiển 12 và năm 1950, thành lập quận Trần Văn Thời (tách từ quận Cà Mau ra theo quyết định của Uỷ ban hành chính kháng chiến Nam bộ). Đến năm 1955, ngụy quyền Sài Gòn tách huyện Cà Mau ra khỏi Bạc Liêu thành lập tỉnh An Xuyên (theo sắc lệnh số 22/NV, ngày 25/10/1955 của chính quyền ngụy). Các huyện còn lại sáp nhập vào tỉnh Sóc Trăng thành lập tỉnh Ba Xuyên.
Về phía chính quyền cách mạng vẫn gọi khu vực Cà Mau là tỉnh Bạc Liêu sau lấy tên tỉnh Cà Mau (mật danh là U1). Ngày 27/11/1973, tái lập tỉnh Bạc Liêu; tỉnh Cà Mau cắt huyện Giá Rai giao tỉnh Bạc Liêu. Trải qua nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi khác nhau, sau ngày Miền nam hoàn toàn giải phóng, tháng 02/1976, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam ra nghị định hợp nhất một số tỉnh ở Miền nam, trong đó hai tỉnh Cà Mau (An Xuyên) và Bạc Liêu hợp thành tỉnh Minh Hải. Lúc này, tỉnh Minh Hải có hai thị xã: thị xã Cà Mau và thị xã Minh Hải và 7 huyện: Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Châu Thành, Thới Bình, Trần Văn Thời và Ngọc Hiển.
Ngày 11/7/1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 181/1977/CP giải thể huyện Châu Thành và chuyển các xã của huyện này về thuộc các huyện Giá Rai, Trần Văn Thời và Thới Bình. Ngày 29/12/1978, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 328/CP thành lập thêm 6 huyện mới thuộc tỉnh Minh Hải gồm: Phước Long, Cà Mau, U Minh, Phú Tân, Cái Nước và Năm Căn, lúc này tỉnh có 12 huyện. Ngày 30/8/1983, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 94/CP giải thể huyện Cà Mau và đưa các xã của huyện này vào thị xã Cà Mau và các huyện Giá Rai, Thới Bình và Cái Nước, đến thời điểm này, tỉnh Minh Hải có 2 thị xã và 11 huyện. Ngày 17/5/1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 75/CP đổi tên thị xã Minh Hải thành thị xã Bạc Liêu; hợp nhất huyện Hồng Dân và huyện Phước Long lấy tên là huyện Hồng Dân; hợp nhất huyện Cái Nước và huyện Phú Tân thành huyện Cái Nước và đổi tên huyện Năm Căn (cũ) thành huyện Ngọc Hiển (môùi); đổi tên huyện Ngọc Hiển (cũ) 13 thành huyện Đầm Dơi (mới).
Như vậy, đến thời điểm này, tỉnh Minh Hải có 2 thị xã, 9 huyện và có 120 xã, phường, thị trấn (93 xã, 13 phường, 14 thị trấn). Ngày 6/11/1996, kỳ họp thứ 10 Quốc Hội khóa 9 đã ra Nghị quyết phê chuẩn việc tách tỉnh Minh Hải ra thành 2 tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, thực hiện từ ngày 01/01/1997. Về phương diện địa giới hành chính, khi mới tái lập tỉnh Cà Mau: phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông Nam và Nam giáp biển Đông và phía Tây giáp Vịnh Thái Lan. Về đơn vị hành chính, tỉnh Cà Mau có 7 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và có 72 xã, phường, thị trấn (có 56 xã, 8 phường và 8 thị trấn).
Ngày 14/4/1999, Chính phủ ra Nghị định số 21/1999/NĐ-CP thành lập thành phố Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Cà Mau.