Tổng quan luận án
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn luôn giữ vị trí trọng yếu trong toàn bộ hệ thống chính trị Việt Nam. Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống, có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời là nơi phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức cuộc sống cộng đồng dân cư. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về việc "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", ngay sau khi được tái lập vào ngày 01/01/1997, Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã xác định công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển nhằm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Dù được Ban Chấp hành Trung ương Đảng đánh giá là địa phương năng động, vận dụng sáng tạo các chủ trương, đường lối, thực tiễn công tác cán bộ cấp cơ sở tại Bình Dương trong 18 năm (1997–2015) vẫn bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là: trước năm 2015, chưa có công trình chuyên khảo nào tiếp cận có hệ thống, toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam để làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong toàn bộ giai đoạn 1997–2015. Đề tài luận án tiến sĩ khoa học lịch sử: "Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015" được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015, trên cơ sở đó đúc kết một số kinh nghiệm có thể vận dụng để tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay của tỉnh.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Luận giải làm rõ những yêu cầu khách quan và chủ quan tác động đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2015.
- Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015.
- Nhận xét một cách khách quan ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015.
- Đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương có giá trị tổng kết thực tiễn và có thể vận dụng trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn cụ thể như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015.
- Phạm vi nội dung: Trong 11 chức danh cán bộ cấp xã theo quy định của pháp luật, luận án tập trung nghiên cứu 4 chức danh cán bộ chủ chốt gồm: Bí thư Đảng ủy; Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Luận án đi sâu vào 4 khâu chủ yếu của công tác cán bộ: (1) Xây dựng tiêu chuẩn và quy hoạch cán bộ; (2) Công tác đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ; (3) Công tác bổ nhiệm và luân chuyển cán bộ; (4) Công tác quản lý cán bộ và thực hiện chính sách cán bộ.
- Phạm vi không gian: Địa bàn các đơn vị hành chính cấp xã (xã, phường, thị trấn) thuộc tỉnh Bình Dương.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 18 năm, từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh Bình Dương và tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI) đến năm 2015 (thời điểm tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình số 20-CtrHĐ/TU ngày 20/7/2011 của Tỉnh ủy và tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định số 2868/2011/QĐ-UBND ngày 04/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp và phân loại các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài thành 3 nhóm chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng.
Nhóm này gồm các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn vĩ mô như: tác phẩm của Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm về luận cứ khoa học nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; công trình của Hoàng Chí Bảo về hệ thống chính trị cơ sở nông thôn nước ta hiện nay; sách của Nguyễn Hữu Tri về kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng; nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Duy Hùng, Nguyễn Tuấn Phong, Võ Thành Nam, Vũ Thị Thu Hằng về luận cứ khoa học và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ phường; tác phẩm của Trần Đình Hoan về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý; sách của Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên về kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc; công trình của Trương Thị Thông và Lê Kim Việt về phòng chống bệnh quan liêu trong công tác cán bộ; sách của Trần Đình Thắng về sự lãnh đạo của Đảng đối với cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương về vai trò của chính quyền cấp xã đối với quản lý phát triển xã hội. Bên cạnh đó là các luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích Thủy (2013), Đỗ Xuân Tuất (2011), Nguyễn Thị Thu Hường (2014), Khăm Phăn Vông Pha Chăn (2014) cùng nhiều bài báo khoa học của Đỗ Minh Cương (2012), Nguyễn Văn Huyên (2012), Nguyễn Thị Hạnh (2014), Nguyễn Đức Hạt (2007), Phạm Văn Định (2005), Trần Lưu Hải (2012), Nguyễn Thị Lan Phương (2010), Đào Thị Ái Thi (2014), Phạm Đức Chính (2013), Lê Minh Quân (2013), Nguyễn Minh Tuấn (2007), Nguyễn Thanh Tuấn và Phạm Ngọc Hà (2014), Trần Anh Tuấn (2011), Nguyễn Hữu Đức (2011), Lê Đình Lý (2013), Đinh Ngọc Giang (2012), Đỗ Thái Huy (2012), Mai Đức Ngọc (2011).
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tại các vùng, miền, địa phương trong cả nước.
Các công trình tiêu biểu gồm: sách của Mai Đức Ngọc về cán bộ chủ chốt cấp xã ở đồng bằng sông Hồng; nghiên cứu của Đinh Ngọc Giang về chuẩn hóa chức danh Chủ tịch UBND xã tại đồng bằng sông Cửu Long; sách của Tần Xuân Bảo về đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý tại Thành phố Hồ Chí Minh; công trình của Trịnh Thanh Tâm về nữ cán bộ chủ chốt cấp xã ở đồng bằng sông Hồng. Nhóm luận án tiến sĩ nghiên cứu theo vùng địa bàn có: Phạm Công Khâm (đồng bằng sông Cửu Long), Nguyễn Viết Quân (Tây Nguyên), Hồ Ngọc Trường (đồng bằng sông Cửu Long), Nguyễn Văn Thiện (Bắc Trung Bộ), Vũ Công Thương (Bình Phước và miền Đông Nam Bộ), Phan Thúy Vân (khu vực Tây Nam Bộ). Các bài viết chuyên khảo của Đặng Thanh Hải (Sóc Trăng), Trần Nhật Duật (Tây Bắc), Nguyễn Thị Tâm (Đà Nẵng), Nguyễn Thị Thu Huyền (Phú Thọ) đã cung cấp kinh nghiệm thực tiễn đa dạng tại các địa phương khác nhau.
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tỉnh Bình Dương.
Bao gồm cuốn sách "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1975–2010)" của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; sách "Bình Dương hội nhập bài học thành công" của Công ty Cổ phần Thông tin đối ngoại; các công trình của Nguyễn Văn Hiệp về sự chuyển biến kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 1945–2005 và 1945–2007; kỷ yếu "Bình Dương 20 năm phát triển" của Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương; đề tài nghiên cứu của Phạm Công Tâm về đổi mới đào tạo cán bộ tại Trường Chính trị tỉnh Bình Dương (1993–2003); luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Cư về tạo nguồn cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở tỉnh Bình Dương năm 2015; các luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng của Nguyễn Văn Linh (lãnh đạo phát triển công nghiệp 1997–2015) và Bùi Thanh Xuân (chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1997–2010); các bài báo của Võ Châu Loan, Nguyễn Chí Hải - Hạ Thị Thiều Giao, Nguyễn Văn Hiệp - Đinh Thị Hoa về nguồn nhân lực tại Bình Dương.
Khoảng trống và vị trí của luận án:
Các công trình trên đã giải quyết nhiều vấn đề lý luận chung hoặc phản ánh thực trạng tại các địa phương khác, trong khi các tài liệu về Bình Dương chủ yếu tập trung vào phát triển kinh tế, công nghiệp hoặc nguồn nhân lực nói chung. Vấn đề cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tại Bình Dương phần lớn mới dừng lại ở số liệu báo cáo, đề án ngành. Luận án này là công trình đầu tiên thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu chuyên khảo, có hệ thống và bao quát toàn diện tiến trình 18 năm lãnh đạo xây dựng 4 chức danh cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ trong thời kỳ đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Về hệ thống khái niệm công cụ, luận án làm rõ nội hàm của "cấp cơ sở" (xã, phường, thị trấn) với tính chất là nền móng của hệ thống quản lý nhà nước 4 cấp, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; đồng thời chuẩn hóa khái niệm "đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở" là những người được bầu cử theo nhiệm kỳ, giữ vị trí người đứng đầu trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Khung phân tích tập trung vào mối quan hệ biện chứng giữa yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội đô thị hóa nhanh của một tỉnh công nghiệp với 4 khâu nghiệp vụ công tác cán bộ: tiêu chuẩn hóa - quy hoạch, đào tạo - tạo nguồn, bổ nhiệm - luân chuyển, và quản lý - chính sách đãi ngộ.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án sử dụng kết hợp các phương pháp đặc trưng của khoa học lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng làm phương pháp chủ đạo nhằm thu thập tư liệu, phục dựng khách quan, chân thực tiến trình lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương ban hành chủ trương và chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở theo trình tự thời gian qua hai giai đoạn 1997–2005 và 2005–2015.
- Phương pháp lôgíc: Được sử dụng đan xen để phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa các sự kiện lịch sử, làm rõ mối liên hệ bản chất giữa sự chuyển biến kinh tế - xã hội với chất lượng đội ngũ cán bộ, từ đó khái quát nhận xét ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp so sánh và phương pháp phỏng vấn: Luận án sử dụng phương pháp so sánh lịch sử (đối chiếu các mốc thời gian 1997, 2005, 2015; so sánh quy định của tỉnh với quy định của Trung ương) và phỏng vấn, khảo sát thực tiễn tại các cơ quan, địa phương nhằm làm sâu sắc thêm các nhận định lịch sử.
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm:
- Hệ thống văn kiện của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Nội vụ (tiêu biểu như Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV).
- Hệ thống văn kiện Đảng bộ tỉnh Bình Dương: Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, VII, VIII, IX; Nghị quyết số 42-NQ/TU ngày 10/10/1997; Chương trình hành động số 16-CTrHĐ/TU và 18-CtrHĐ/TU (2002); Chương trình số 20-CtrHĐ/TU (2011); Quyết định số 528-QĐ/TU và 529-QĐ/TU (2004); Quyết định số 655-QĐ/TU (2003); Quyết định số 2868/2011/QĐ-UBND (2011).
- Các báo cáo định kỳ, báo cáo tổng kết giai đoạn, đề án quy hoạch, số liệu thống kê của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ và Trường Chính trị tỉnh Bình Dương.
- Các công trình sách chuyên khảo, bài báo khoa học, luận án tiến sĩ đã công bố liên quan đến đề tài.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này dành 22 trang để khảo cứu toàn diện hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước. Tác giả đã phân tích có hệ thống 3 nhóm công trình: các nghiên cứu lý luận chung về công tác cán bộ cấp cơ sở; các nghiên cứu thực tiễn tại các tỉnh, thành phố và vùng miền trên cả nước; các công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương. Qua việc phân tích thành tựu của các công trình đi trước, chương 1 khẳng định tính cấp thiết, xác định rõ khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết: phân tích chuyên sâu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương đối với 4 chức danh cán bộ chủ chốt cấp cơ sở giai đoạn 1997–2015 từ cách tiếp cận lịch sử Đảng.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bình Dương quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (1997-2005)
Chương 2 làm rõ bối cảnh lịch sử và thực trạng khi tỉnh Bình Dương tái lập ngày 01/01/1997 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX. Tỉnh có diện tích 2.695,54 km² (chiếm 0,83% diện tích cả nước), ban đầu gồm 4 đơn vị hành chính cấp huyện với 77 đơn vị hành chính cấp xã. Trong giai đoạn này, quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp - dịch vụ diễn ra mạnh mẽ, kéo theo sự gia tăng dân số cơ học nhanh (dân số ngoài tỉnh chiếm tới 52% tổng dân số).
Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở năm 1997 bộc lộ nhiều bất cập về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và cơ cấu: toàn tỉnh có 238 cán bộ đảm nhiệm 4 chức danh chủ chốt; trong đó Chủ tịch UBND xã có 12,98% trình độ văn hóa cấp II, 23,37% chưa qua bồi dưỡng trung cấp hành chính; Bí thư Đảng ủy có gần 4% văn hóa cấp I, 20,77% chưa qua đào tạo lý luận chính trị, 68,83% chưa qua đào tạo quản lý nhà nước; tỷ lệ cán bộ nữ chỉ đạt 3%, cán bộ trên 50 tuổi chiếm đa số và 25% cán bộ thừa nhận còn lúng túng trong công việc.
| Chỉ tiêu khảo sát |
Thực trạng cán bộ chủ chốt năm 1997 |
Mục tiêu Nghị quyết số 42-NQ/TU đến năm 2005 |
| Tổng số lượng (4 chức danh) |
238 cán bộ |
Kiện toàn đủ số lượng, hạ độ tuổi bình quân 2-3 tuổi |
| Cơ cấu độ tuổi |
Cán bộ từ 50 tuổi trở lên chiếm số đông |
Số đông đạt độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi |
| Tỷ lệ cán bộ nữ |
3,00% |
Đạt trên 20% trong lãnh đạo, quản lý |
| Trình độ học vấn |
Bí thư có gần 4% cấp I; Chủ tịch UBND có 12,98% cấp II |
100% tốt nghiệp THCS trở lên, trong đó THPT đạt 80% |
| Lý luận chính trị |
20,77% Bí thư Đảng ủy chưa qua đào tạo |
100% Bí thư xã, phường đạt từ trung cấp LLCT trở lên |
| Chuyên môn nghiệp vụ |
Tỷ lệ chưa qua đào tạo chuyên môn còn cao |
Ít nhất 40% có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên |
| Quản lý nhà nước |
68,83% Bí thư chưa qua đào tạo QLNN |
100% Chủ tịch HĐND, UBND xã qua đào tạo QLNN |
Trước yêu cầu đó, Tỉnh ủy Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 42-NQ/TU ngày 10/10/1997, xác định mục tiêu trẻ hóa, trí thức hóa đội ngũ cán bộ. Chủ trương này tiếp tục được khẳng định qua Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI (12/1997) và lần thứ VII (01/2001). Tỉnh ủy ban hành các Chương trình hành động số 16-CTrHĐ/TU, số 18-CtrHĐ/TU (2002), Quyết định phân cấp quản lý số 528-QĐ/TU và bổ nhiệm số 529-QĐ/TU (2004). Đặc biệt, Tỉnh ủy ban hành Quyết định số 655-QĐ/TU ngày 20/10/2003 quy định tiêu chuẩn chức danh cán bộ chủ chốt cấp cơ sở với các tiêu chí chuẩn hóa cao hơn quy định của Bộ Nội vụ (yêu cầu Bí thư, Chủ tịch HĐND, UBND xã phải có trình độ đại học chuyên ngành, cao cấp lý luận chính trị, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên/chuyên viên chính, có chứng chỉ ngoại ngữ và tin học trình độ A).
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2005 đến năm 2015
Chương 3 trình bày giai đoạn Bình Dương đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa với tốc độ cao, số lượng phường tăng lên và số xã giảm dần. Đến năm 2015, Bình Dương trở thành 1 trong 5 địa phương cả nước thu hút vốn FDI vượt mốc 20 tỷ USD. Đảng bộ tỉnh tập trung lãnh đạo đổi mới căn bản công tác cán bộ cấp cơ sở thông qua việc thực hiện quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2005–2010 và 2010–2015 (Biểu đồ 3.1). Tỉnh ủy ban hành Chương trình số 20-CtrHĐ/TU ngày 20/7/2011 về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2011–2015 và UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2868/2011/QĐ-UBND ngày 04/10/2011 phê duyệt Đề án tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở.
Quá trình chỉ đạo của Tỉnh ủy được triển khai đồng bộ qua các mặt:
- Đẩy mạnh công tác quy hoạch dự nguồn gắn với đào tạo, mở các lớp tạo nguồn cán bộ trẻ từ học sinh, sinh viên xuất sắc và cán bộ cơ sở (Biểu đồ 4.1).
- Giao Trường Chính trị tỉnh phối hợp với các học viện, trường đại học đào tạo hoàn thiện chuẩn đại học chuyên môn, cử nhân/cao cấp lý luận chính trị và quản lý hành chính nhà nước.
- Thực hiện nghiêm túc quy trình bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ giữa các phòng, ban cấp huyện về giữ chức danh chủ chốt cấp xã và ngược lại.
- Áp dụng các chính sách phụ cấp đặc thù của tỉnh nhằm hỗ trợ kinh phí đào tạo, thu hút nhân tài và đãi ngộ cán bộ công tác tại xã, phường, thị trấn.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2015 dựa trên các số liệu so sánh giữa các mốc 2005 và 2015 (Biểu đồ 4.2 và 4.3):
Nhận xét ưu điểm:
- Đảng bộ tỉnh đã kịp thời ban hành các nghị quyết, đề án có tầm nhìn chiến lược, bám sát diễn biến công nghiệp hóa, đô thị hóa của địa phương.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có sự chuyển biến vượt bậc về trình độ học vấn, chuyên môn đại học, lý luận chính trị, năng lực quản trị hành chính và ngoại ngữ, tin học.
- Khâu tạo nguồn và quy hoạch được thực hiện chủ động, giảm thiểu sự hẫng hụt thế hệ khi chuyển giao cán bộ; cơ chế luân chuyển giúp rèn luyện cán bộ qua thực tiễn.
Nhận xét hạn chế và nguyên nhân:
- Cơ cấu cán bộ nữ trong chức danh chủ chốt chuyển biến chậm, chưa đạt được chỉ tiêu 20% như Nghị quyết 42-NQ/TU đề ra.
- Một bộ phận cán bộ chưa theo kịp yêu cầu quản lý đô thị hiện đại và giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống, tranh chấp lao động phức tạp; đánh giá cán bộ ở vài nơi còn biểu hiện nể nang, hình thức; còn cán bộ vi phạm kỷ luật bị xử lý.
- Nguyên nhân chủ quan là việc chỉ đạo kiểm tra, giám sát có lúc chưa thường xuyên; quy hoạch cán bộ ở một số cơ sở thiếu tính liên thông dài hạn.
Một số kinh nghiệm đúc kết:
- Nắm vững và vận dụng sáng tạo đường lối của Trung ương vào điều kiện thực tiễn của một tỉnh công nghiệp phát triển nhanh, lấy hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội và ổn định địa bàn làm thước đo năng lực cán bộ.
- Thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi khâu của công tác cán bộ; kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh trước khi bổ nhiệm.
- Chú trọng khâu tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ thông qua các đề án đào tạo bài bản, kết hợp chính sách "trải thảm đỏ" thu hút nhân tài và phụ cấp đãi ngộ hợp lý cho cấp cơ sở.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên; giữ vững kỷ cương, kỷ luật gắn liền với phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ vào nội dung công bố của tác giả, luận án mang lại những đóng góp mới cụ thể sau:
- Về mặt khoa học và lý luận: Luận án đã hệ thống hóa một cách đầy đủ, khoa học toàn bộ chủ trương, nghị quyết, quyết định và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Bình Dương đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong suốt 18 năm (1997–2015); phân tích rõ bước phát triển tư duy của Đảng bộ tỉnh qua các thời kỳ đại hội.
- Về mặt thực tiễn: Luận án đã dựng lại bức tranh khách quan về thực trạng đội ngũ cán bộ cơ sở từ những ngày đầu tái lập tỉnh đầy khó khăn (1997) cho đến khi Bình Dương trở thành trung tâm công nghiệp lớn (2015); chỉ rõ những chuyển biến về chất lượng, số lượng, cơ cấu cũng như các mặt tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
- Về mặt đúc kết kinh nghiệm: Luận án tổng kết thành công các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn sâu sắc trong việc tiêu chuẩn hóa chức danh, tạo nguồn cán bộ trẻ, đào tạo theo quy hoạch và luân chuyển cán bộ cơ sở trong điều kiện đô thị hóa nhanh.
- Giải pháp và kiến nghị: Luận án cung cấp các luận cứ thực tiễn để Đảng bộ tỉnh Bình Dương tiếp tục hoàn thiện công tác cán bộ cấp cơ sở trong giai đoạn tiếp theo; đồng thời gợi mở hướng vận dụng cho các địa phương khác có đặc điểm kinh tế - xã hội tương đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 4 chức danh cán bộ chủ chốt (Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cấp xã) mà chưa bao quát toàn diện 7 chức danh còn lại trong hệ thống chính trị cấp cơ sở (gồm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội). Mốc thời gian kết thúc ở năm 2015 nên chưa phản ánh những điều chỉnh mới trong công tác cán bộ của tỉnh Bình Dương theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII và XIII của Đảng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu toàn diện đối với toàn bộ 11 chức danh trong hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn; nghiên cứu sâu hơn về sự tác động của mô hình chính quyền đô thị, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đối với chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở tỉnh Bình Dương từ năm 2015 đến nay.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Quản lý nhà nước; cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử và số liệu thống kê chi tiết về tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997–2015.
- Cơ quan tham mưu cấp ủy (Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Huyện ủy): Cung cấp cơ sở khoa học và các bài học kinh nghiệm cụ thể về quy trình tạo nguồn, xây dựng đề án đào tạo sinh viên xuất sắc, công tác quy hoạch dự nguồn và luân chuyển cán bộ lãnh đạo cấp xã.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Nội vụ, Phòng Nội vụ): Tham khảo để xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ công chức cơ sở phù hợp với đặc thù phát triển công nghiệp và quản trị đô thị hiện đại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tập trung nghiên cứu những chức danh cán bộ cụ thể nào ở cấp cơ sở tỉnh Bình Dương?
Luận án tập trung nghiên cứu 4 chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở xã, phường, thị trấn gồm: Bí thư Đảng ủy; Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp cơ sở.
2. Thực trạng trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bình Dương năm 1997 khi mới tái lập tỉnh như thế nào?
Năm 1997, toàn tỉnh có 238 cán bộ thuộc 4 chức danh chủ chốt. Về học vấn, Chủ tịch UBND xã có 12,98% có trình độ văn hóa cấp II, Bí thư Đảng ủy có gần 4% văn hóa cấp I. Về chuyên môn và lý luận, 23,37% Chủ tịch UBND chưa qua bồi dưỡng trung cấp hành chính; 20,77% Bí thư chưa qua đào tạo lý luận chính trị và 68,83% chưa qua đào tạo quản lý nhà nước; tỷ lệ cán bộ nữ chỉ chiếm 3%.
3. Tỉnh ủy Bình Dương đã quy định tiêu chuẩn chức danh cán bộ chủ chốt cấp cơ sở cao hơn tiêu chuẩn của Trung ương ở những điểm nào?
Tại Quyết định số 655-QĐ/TU ngày 20/10/2003, Tỉnh ủy Bình Dương quy định Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cấp xã phải tốt nghiệp đại học chuyên ngành, có bằng cao cấp lý luận chính trị, hoàn thành chương trình bồi dưỡng chuyên viên hoặc chuyên viên chính, đồng thời có chứng chỉ trình độ A về tin học và ngoại ngữ (trong khi Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ chỉ yêu cầu trình độ trung cấp chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị).
4. Hai mốc thời gian 1997 và 2015 của phạm vi nghiên cứu được xác định dựa trên những sự kiện lịch sử nào?
Mốc bắt đầu năm 1997 là thời điểm tỉnh Bình Dương được tái lập (tách ra từ tỉnh Sông Bé) và tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI. Mốc kết thúc năm 2015 là thời điểm tỉnh tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình số 20-CtrHĐ/TU của Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tổng kết 5 năm thực hiện Đề án tạo nguồn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở theo Quyết định số 2868/2011/QĐ-UBND.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào để giải quyết nhiệm vụ đặt ra?
Luận án sử dụng phương pháp lịch sử để tái hiện tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và phương pháp lôgíc để phân tích, tổng hợp, đánh giá bản chất. Ngoài ra, tác giả kết hợp phương pháp so sánh lịch sử và phương pháp phỏng vấn, khảo sát thực tiễn tài liệu.
Kết luận
Luận án "Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015" là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận án đã tái hiện một cách hệ thống, khách quan toàn bộ quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Dương vận dụng đường lối của Trung ương vào xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở qua 18 năm tái lập và phát triển công nghiệp hóa. Các kết quả nghiên cứu, đánh giá ưu khuyết điểm và 4 bài học kinh nghiệm được rút ra trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác cán bộ của tỉnh Bình Dương cũng như các địa phương trong giai đoạn hiện nay.