Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HSG 1. Quan niệm về học sinh giỏi và giáo dục học sinh giỏi “Giỏi” [35] là một tính từ xác lập một phẩm chất, một tiêu chí đánh giá về năng lực con người. Đối với HS, “giỏi” thường được đánh giá đi kèm với với kết quả học tập tốt. Tuy nhiên khái niệm về HSG phải được hiểu sâu sắc và rộng rãi hơn.
Nhiều người cho rằng: HSG là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết hoặc khoa học; là người cần một sự giáo dục đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó; hay HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết. HSG có thể học bằng nhiều cách khác nhau và tốc độ nhanh hơn so với các bạn cùng lớp. Những học sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động đặc biệt không theo những điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên. Theo chúng tôi, HSG là những em có năng lực học tập tốt, có nền tảng kiến thức cơ bản, nhanh nhạy trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến môn học.
Luôn nỗ lực để chiếm lĩnh tri thức, có thể đánh giá đó là những HS có chất lượng kiến thức tốt. Chất lượng kiến thức được thể hiện qua các dấu hiệu sau: Tính chính xác: tính chính xác của kiến thức được đặc trưng bởi sự phù hợp của nội dung biểu đạt và nội dung khoa học. Tính khái quát: tính khái quát của kiến thức được đặc trưng bởi khả năng phản ánh, biểu đạt những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ánh. Tính hệ thống: tính hệ thống của kiến thức được đặc trưng bởi sự hình thành kiến thức trong mối liên hệ của hệ thống các kiến thức.
Tính áp dụng được: tính áp dụng được được đặc trưng bởi khả năng sử dụng được kiến thức trong hành động nhận thức hoặc thực tiễn 6 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ Tính bền vững: tính bền vững của kiến thức được đặc trưng bởi sự chắc chắn ổn định của kiến thức có thể huy động và áp dụng được khi cần. Các dấu hiệu này vừa giúp người thầy phát hiện HSG, vừa là mục tiêu cần đạt được trong công tác bồi dưỡng. Như vậy, đối với HSG rất cần có sự giáo dục đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của họ. Sự giáo dục đặc biệt ở đây chính là công tác bồi dưỡng HSG.
Có thể nói bồi dưỡng HSG là một kiểu của dạy học phân hóa. Đối với nước ta các trường chuyên, lớp chọn là một trong những hình thức dạy học phân hóa. Hệ thống các trường, lớp này đã có những đóng góp to lớn trong việc phát hiện và bồi dưỡng HSG, góp phần quan trọng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực,bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, vẫn còn có những học sinh có năng lực học tập đã và đang theo học tại các trường THPT không chuyên.
Vì vậy muốn phát triển năng lực của các học sinh này thông qua chương trình học tập ở trên lớp thì đòi hỏi GV phải có phương pháp dạy học phù hợp nhằm phát triển năng lực của học sinh. Cơ sở tâm lý học và giáo dục học của dạy học phân hóa Cơ sở tâm lý học: Đầu thế kỉ XX đã xuất hiện hai lý thuyết phát triển của J.Piaget và Vưgotxky. Các nhà giáo dục coi đây là thành tựu quan trọng nhất của tâm lý học phát triển và dùng nó để xây dựng các phương pháp dạy học mới.Piaget cho rằng: Người học đóng vai trò chủ động trong việc thích nghi với môi trường xung quanh. Sự thích nghi này diễn ra ngay từ lúc lọt lòng mẹ và đó là sự phát triển tự nhiên sinh học và việc học tập kinh nghiệm của xã hội.
Trong khi đứa trẻ chủ động khám phá thế giới thì cấu trúc nhân cách cũng phát triển và biến đổi không ngừng. Theo học thuyết của J.Piaget trong quá trình nhận thức (trong đó có nhận thức của con người) được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ 0 - 2 tuổi trẻ biết bắt trước các hoạt động của người khác, nhận biết đồ vật bằng cách cầm nắm chúng. Giai đoạn 2: Từ 2 - 7 tuổi, phát triển ngôn ngữ nhận biết các biểu tượng thể hiện như tranh vẽ, chữ viết, các con số, phân loại đồ vật theo các đặc điểm giống nhau, bước đầu hiểu được quy luật nguyên nhân - kết quả. 7 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ Giai đoạn 3: Từ 7 - 11 tuổi, biết sử dụng phép logic, hiểu được các quy luật bảo tồn, biết phân biệt đồ vật theo các tiêu chí phức tạp, thể hiện tính chất quan trọng của suy nghĩ và hành động.
Giai đoạn 4: Từ 11 tuổi trở lên, biết sử dụng phép logic để tư duy khái niệm, thuật ngữ, biểu tượng biết tư duy khoa học trong việc đề xuất và kiểm tra giả thiết. Sự trưởng thành của mỗi giai đoạn là kết quả của các giai đoạn đã đạt được. Kết quả của mỗi giai đoạn đạt được không chỉ là kinh nghiệm tuổi tác đem lại mà còn phụ thuộc vào chất lượng những thay đổi trong suy nghĩ của mỗi người. Học thuyết của J.Piaget đã giúp các nhà khoa học chú ý tới từng giai đoạn phát triển của HS và đề ra các phương án dạy học phù hợp với từng lứa tuổi trang bị kiến thức cho HS ở các cấp độ khác nhau.
Vưgotxky quan niệm sự phát triển như sau : Nhận thức của con người dựa trên nền tảng xã hội và thông qua các hoạt động xã hội ví như qua việc sử dụng ngôn ngữ, qua giao tiếp với những người xung quanh. Theo Vưgotxky khu vực tốt nhất cho sự phát triển nhận thức là "vùng phát triển gần nhất". Vùng này là khoảng cách giữa mức độ phát triển thực tại xác định bởi khả năng giải quyết vấn đề độc lập và mức độ phát triển tiềm ẩn được xác định thông qua việc giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của người lớn hoặc của cá nhân khác trội hơn. Nhà lý luận Xô viết N.Verlinin nhận xét "Các khái niệm khoa học không được hình thành ngay lập tức ở HS mà phải trải qua nhiều mức độ, giai đoạn.
Ở mỗi giai đoạn trí nhớ lại giầu thêm các tài liệu, sự kiện, phân tích lại sâu sắc và toàn diện hơn, làm cho những kết luận, những khái quát hóa hoặc những quy tắc được lĩnh hội lại biến thành các tài sản trí tuệ của HS". Ở cấp 1 sự khác biệt ở HS chưa lớn, để đảm bảo kết quả GD ở cấp học này, cần tính đến sự khác biệt giữa các HS trong khuôn khổ của PP tiếp cận cá nhân đối với HS. Đồng thời bổ sung bằng những giờ học thêm theo giáo trình khác nhau và bằng hoạt động ngoại khóa. Ở các cấp học trên cần giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức của HS nắm với thời gian cho phép.
Nếu không có phương án đúng để giải quyết mâu thuẫn này thì tình trạng quá tải sẽ tiếp tục tăng và đặc biệt nặng nề với HS có sức học trung 8 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www. Nhưng nếu giảm nhịp độ và khối lượng chiều sâu tri thức thì HS có năng lực tốt sẽ không hài lòng. Chỉ có dạy học phân hóa mới giải quyết được vấn đề này. Thực tiễn cho thấy phần lớn HS có biểu hiện khá sớm đối với một số môn học.
Kết quả nghiên cứu tâm lý cho biết: Trước lớp 5 thì hứng thú của trẻ em còn dao động với biên độ lớn, nhưng cuối cấp 2 thì hứng thú có vẻ bền vững hơn và kết quả thực nghiệm các nhà GD đã xác nhận: Quá trình dạy học sẽ có kết quả và hiệu quả hơn nhiều khi tổ chức lớp học theo hứng thú cùng một môn học. Mặt khác sự phát triển tâm lý của HS cũng theo quy luật không đồng đều: Mặc dù trong cùng một lứa tuổi, khả năng và sự phát triển trí tuệ của các em cũng không giống nhau, hứng thú, nhu cầu và động cơ học tập cũng khác nhau. Chưa kể đến các khác biệt về môi trường xã hội, gia đình và các điều kiện học tập. Sự khác biệt này tạo nên bộ mặt riêng biệt trong sự phát triển tâm lý của HS.
[7] Cơ sở giáo dục học Một trong những nguyên tắc giáo dục quan trọng nhất của giáo dục là phát triển năng khiếu và năng lực riêng của từng cá nhân. Sự phân hóa dạy học cần thiết để phát triển và bộc lộ các tư chất, năng lực cần thiết của trẻ. Vì: Thứ nhất : Phần lớn học sinh các lớp trên đã ổn định hứng thú đối với một số môn học, hoặc một dạng hoạt động nào đó. Thứ hai: Quá trình dạy học sẽ đạt hiệu quả mong muốn nếu biết sử dụng các hứng thú của HS vào mục đích dạy học và GD.
Thứ ba: Phân hóa DH phù hợp với HS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tối đa tư chất và năng lực của HS có năng khiếu. Và do đó để HSG phát huy được năng lực của mình cần có hình thức dạy học phân hóa phù hợp. Các hình thức bồi dưỡng HSG môn Vật lí ở trường THPT 1. Các hình thức bồi dưỡng HSG Có nhiều hình thức để bồi dưỡng HSG như: Lớp riêng biệt (Separate classes): HSG được rèn luyện trong một lớp hoặc một trường học riêng, thường gọi là lớp chuyên, lớp năng khiếu.
Phương pháp Mông-te-xơ-ri (Montessori method): Trong một lớp HS chia thành ba nhóm tuổi, nhà trường mang lại cho HS những cơ hội vượt lên so với các 9 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ bạn cùng nhóm tuổi. Hình thức này đòi hỏi phải xây dựng được các mức độ khá tự do, nó hết sức có lợi cho những HSG trong hình thức học tập với tốc độ cao. Tăng gia tốc (Acceleration): Những HS xuất sắc xếp vào một lớp có trình độ cao với nhiều tài liệu tương ứng với khả năng của mỗi HS. Học tách rời (Pull-out) một phần thời gian theo lớp HSG, phần còn lại học lớp thường.
Làm giàu tri thức (Enrichment) toàn bộ thời gian HS học theo lớp bình thường, nhưng nhận tài liệu mở rộng để thử sức, tự học ở nhà.