ĐẶT VẤN ĐỀ: Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại của công nghệ thông tin. Tin học hóa đã đi sâu vào tất cả các “ngõ ngách” của đời sống xã hội, từ những công việc đơn giản như giải một bài toán cơ bản đến những vấn đề phức tạp trong lĩnh vực viễn thông, nghiên cứu vũ trụ… Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đã và đang đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho các doanh nghiệp, công ty, phòng khám… từ việc lưu trữ dữ liệu đến việc tìm kiếm thông tin, lập các báo cáo…giúp cho công tác quản lý đựơc thực hiện một cách dễ dàng hơn. Trong suốt thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về các công việc ở phòng khám chữa bệnh bằng cây thảo dược, tôi đã nhận thấy công tác quản lý thảo dược, khám chữa bệnh hiện tại từ bác sĩ đến các nhân viên của phòng khám có đôi lúc cảm thấy mệt mỏi, rắc rối với các công việc của phòng khám như ra toa thuốc, quản lý bệnh nhân, nhân viên và các hoạt động xuất nhập của phòng khám, gặp khó khăn khi phải làm báo cáo doanh thu định kỳ, thống kê các hạng mục cần thiết. Từ những trăn trở và khó khăn trong công việc như trên tôi nhận thấy sự cần thiết phải thiết kế một phần mềm quản lý cây thảo dược và hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược nhằm mục đích tối ưu hóa các công việc trong công tác quản lý và hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược.
LỊCH SỬ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: Ngày nay đã có rất nhiều phần mềm quản lý công tác khám chữa bệnh ở bệnh viện, phòng khám như: Clinic Deluxe của công ty Sacomtex, Flex Clinic của công ty Flex Corp…Nhưng những phần mềm đó đều hỗ trợ việc khám chữa bệnh bằng thuốc tân dược. Vì vậy việc khám chữa bệnh bằng cây thảo vẫn còn là một vấn đề mới. PHẠM VI: Đứng trước những nhu cầu, khó khăn nêu trên nên tôi quyết định tham gia nghiên cứu đề tài “Quản lý thảo dược - áp dụng hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược” Sinh viên thực hiện: Trần Văn Ngoan 1 Chương trình quản lý cây thảo dược – áp dụng hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược nhằm hiểu thêm về công tác quản lý, vận dụng những kiến thức đã học trong trường để xây dựng một phần mềm có thể áp dụng hỗ trợ cho các phòng khám, chữa bệnh bằng cây thảo dược. Phạm vi của đề tài bao gồm các công việc sau: Khảo sát.
Phân tích thiết kế hệ thống bằng công cụ Star UML. Thiết kế cơ sở dữ liệu bằng hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server 2005. Thiết kế giao diện, xây dựng phần mềm bằng Microsoft Visual C# 2008. Sinh viên thực hiện: Trần Văn Ngoan 2 Chương trình quản lý cây thảo dược – áp dụng hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ---oOo--- 2.
MÔ TẢ NGHIỆP VỤ PHÒNG KHÁM: Phòng khám tiếp nhận bệnh nhân đến khám và chữa bệnh bằng các loại thảo dược, bệnh nhân cũng có thể khám bệnh hoặc bệnh nhân đến mua thuốc theo toa mà không cần phải khám bệnh ở phòng khám. Khi bệnh nhân đến khám ở phòng khám sẽ đến nơi tiếp nhận bệnh nhân để đăng ký khám chữa bệnh, sau khi đăng ký bệnh nhân được cấp cho một số thự tự và bệnh nhân chờ gọi đến số của mình để vào khám bệnh. Bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân bằng cách bắt mạch và dựa vào triệu chứng của bệnh nhân để chuẩn đoán bệnh và cấp thuốc cho bệnh nhân. SƠ LƯỢC VỀ PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG HƯỚNG ĐỐI TƯỢNG: 2.
Tổng quan về hệ thống thông tin: 2. Hệ thống: - Hệ thống là tập hợp các phần tử tương tác được tổ chức nhằm thực hiện một mục đích xác định. Các phần tử ở đây là tập hợp các phương tiện vật chất và nhân lực. - Tổ chức tạo thành một hệ thống mở, nghĩa là liên hệ với một môi trường.
- Một số phần tử của hệ thống có sự tương tác với bên ngoài (cung ứng, thương mại, v. - Đặc điểm cơ bản của hệ thống là tính động. Hệ thống quản lý: - Hệ thống quản lý là một hệ thống có một mục đích mang lại lợi nhuận hoặc lợi ích nào đó. Đặc điểm của hệ thống là có sự tham gia của con người và có trao đổi thông tin.
Hệ thống thông tin (Information System): Sinh viên thực hiện: Trần Văn Ngoan 3 Chương trình quản lý cây thảo dược – áp dụng hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược - Là một hệ thống sử dụng công nghệ thông tin để thu thập, truyền, lưu trữ, xử lý và biểu diễn thông tin trong một hay nhiều quá trình kinh doanh. Hệ thống thông tin phát triển qua bốn loại hình: + Hệ xử lý dữ liệu: lưu trữ và cập nhật dữ liệu hàng ngày, ra các báo cáo theo định kỳ (Ví dụ: Các hệ thống tính lương). + Hệ thống thông tin quản lý (Management Information System - MIS): gồm cơ sở dữ liệu hợp nhất và các dòng thông tin giúp con người trong sản xuất, quản lý và ra quyết định. + Hệ trợ giúp quyết định: Hỗ trợ cho việc ra quyết định (cho phép nhà phân tích ra quyết định chọn các phương án mà không phải thu thập và phân tích dữ liệu).
+ Hệ chuyên gia: Hỗ trợ nhà quản lý giải quyết các vấn đề và làm quyết định một cách thông minh. Vai trò: - Hệ thống thông tin đóng vai trò trung gian giữa hệ quyết định và hệ tác nghiệp trong hệ thống quản lý. Nhiệm vụ: - Hệ thống thông tin có 2 nhiệm vụ chủ yếu là: + Trao đổi thông tin với môi trường ngoài + Thực hiện việc liên lạc giữa các bộ phận và cung cấp thông tin cho các hệ tác nghiệp và hệ quyết định 2. Phương pháp phân tích thiết kế hệ thống hướng đối tượng: Đây là một trong những phương pháp phân tích thiết kế hệ thống thông tin.
Nó được hình thành giữa thập niên 80 dựa trên ý tưởng lập trình hướng đối tượng. Phương pháp này được phát triển và hiện nay rất phổ biến.1 Phân tích: Nghiên cứu nghiệp vụ (business) của người dùng và các vấn đề của họ để khám phá xem họ cần hệ thống để làm cái gì, để giúp họ thực hiện công việc của họ tốt hơn. Sinh viên thực hiện: Trần Văn Ngoan 4 Chương trình quản lý cây thảo dược – áp dụng hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược 2. Thiết kế: Tạo ra một bản quy hoạch (plan) hoặc một bản thiết kế chỉ ra cách thức chúng ta định thực hiện các chức năng đã vạch ra ở bước phân tích.
Tính hướng đối tượng: - Tư duy theo cách ánh xạ các thành phần của hệ thống vào các đối tượng ngoài đời thực. - Ứng dụng được chia thành các thành phần nhỏ, gọi là các đối tượng, chúng tương đối độc lập với nhau. - Mỗi đối tượng bao gồm đầy đủ dữ liệu và hoạt động của nó. - Hệ thống được xây dựng bằng cách ghép nối các đối tượng lại với nhau thông qua các mối quan hệ cũng như sự tương tác giữa chúng.
- Ưu điểm: + Hỗ trợ sử dụng lại mã nguồn do tính đặc thù của phương pháp lập trình hướng đối tượng. + Phù hợp với các hệ thống lớn do chỉ chú trọng việc xác định đối tượng và các hành vi có liên quan. Các nguyên tắc cơ bản của hướng đối tượng: a. Trừu tượng hóa: Thực thể phần mềm được trừu tượng hóa thành các đối tượng, các đối tượng được trừu tượng hóa thành các lớp với thuộc tính và phương thức tương ứng.
Các lớp được trừu tượng hóa thành các lớp kế thừa. Tính đóng gói: - Các đối tượng có phương thức và thuộc tính riêng. - Việc cài đặt các đối tượng độc lập với nhau. - Cài đặt hệ thống độc lập với người sử dụng.
Sinh viên thực hiện: Trần Văn Ngoan 5 Chương trình quản lý cây thảo dược – áp dụng hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược c.Tính phân cấp: Phân cấp theo các cấp độ trừu tượng từ cao đến thấp. Các khái niệm cơ bản của hướng đối tượng: a. Đối tượng : Biểu diễn cho một thực thể vật lý, một thực thể khái niệm hay một thực thể phần mềm. Đối tượng = Định danh + Trạng thái + Hành vi Ví dụ: một đối tượng xe mô tô Trạng thái: 107 cc 41.000 KM 60 KM/H Đỏ Định danh: Môtô 95P1 - 8133 Hành vi: Chay() Khởiđộng() Dừng() Tắtmáy() Hình 1.
Ví dụ đối tượng xe mô tô Sinh viên thực hiện: Trần Văn Ngoan 6 Chương trình quản lý cây thảo dược – áp dụng hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược b. Liên kết giữa các đối tượng : Ví dụ: Giảng dạy Giáo viên A Lớp học X Giáo viên A Xe Tải Y Lái Hình 2. Ví dụ liên kết giữa các đối tượng c. Sơ đồ hoạt vụ (Usecase diagrams): Sơ đồ hoạt vụ hay còn gọi là mô hình trường hợp sử dụng là một mô hình cơ bản trong việc phân tích và thiết kế hệ thống thông tin theo kiểu hướng đối tượng.
- Một sơ đồ hoạt vụ thể hiện: + Hệ thống. + Trường hợp sử dụng. - Hệ thống: Hệ thống không nhất thiết là phần mềm, hệ thống có thể là một thiết bị, một tổ chức nào đó. Cần xác định rõ ranh giới, phạm vi của hệ thống.
- Tác nhân: Không phải là thành phần của hệ thống. Là người hay hệ thống khác tương tác với hệ thống. Tương tác: + Nhận thông tin từ hệ thống + Gửi thông tin cho hệ thống + Nhận và gửi thông tin với hệ thống Sinh viên thực hiện: Trần Văn Ngoan 7 Chương trình quản lý cây thảo dược – áp dụng hỗ trợ khám chữa bệnh bằng cây thảo dược Một tác nhân là một dạng thực thể (một lớp), chứ không phải một thực thể. Tác nhân mô tả và đại diện cho một vai trò, chứ không phải là một người sử dụng thật sự và cụ thể của hệ thống.
- Trường hợp sử dụng (usecase): Là một khối chức năng được thực hiện bởi hệ thống để mang lại kết quả có giá trị đối với một tác nhân nào đó. - Các tính chất của usecase: + Một Usecase bao giờ cũng được gây ra bởi một tác nhân, được thực hiện nhân danh một tác nhân nào đó. Tác nhân phải ra lệnh cho hệ thống để thực hiện Usecase đó, dù là trực tiếp hay gián tiếp. + Một Usecase là phải hoàn tất.
Một Usecase sẽ không được coi là hoàn tất chừng nào mà giá trị cuối cùng của nó chưa được sản sinh ra.