Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Xây dựng và sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học chủ đề hàm số ở trường THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm “Khái niệm (KN) là hình thức của tư duy, trong đó phản ánh dấu hiệu cơ bản khác biệt của một sự vật đơn nhất hay lớp các sự vật đồng nhất. KN là những tri thức khái quát về những dấu hiệu bản chất và thuộc tính chung nhất của từng nhóm sự vật, hiện tượng cùng loại; về những mối liên hệ và tương quan tất yếu giữa các sự vật, hiện tượng khách quan” [6]. Quan điểm biện chứng xem KN là một trong các hình thức tư duy, phản ánh sự vận động phát triển của thực tại khách quan.
Các KN không phải tồn tại riêng rẽ và bất biến mà phát triển trong một mối liên hệ với những KN khác. KN bao giờ cũng có nội hàm và ngoại diên. Nội hàm của KN là tập hợp những dấu hiệu cơ bản khác biệt (dấu hiệu bản chất) của các đối tượng được phản ánh trong KN. Ngoại diên của KN là tập hợp tất cả các đối tượng có chứa những dấu hiệu bản chất được phản ánh trong KN.
* Đặc tính của khái niệm: - Tính chung: KN là kết quả của quá trình nhận thức đi từ cái đơn nhất đến cái phổ biến, từ cái riêng đến cái chung bằng con đường khái quát hóa. Đơn nhất là những dấu hiệu thuộc tính chỉ có ở sự vật, hiện tượng nhất định. Phổ biến là những dấu hiệu thuộc tính chung có ở nhiều sự vật hay hiện tượng. Sự tổng hòa các dấu hiệu hoặc thuộc tính chung và bản chất hợp thành nội dung KN.
Như vậy, nội dung KN là sự tổng hợp chứ không phải là một phép cộng các dấu hiệu [4]. - Tính bản chất: Trong các dấu hiệu và thuộc tính chung, người ta phân ra được một số thuộc tính và dấu hiệu bản chất, mà nhờ nó về cơ bản, chúng ta có thể phân biệt được loại sự vật, hiện tượng này với loại sự vật hiện tượng khác. - Tính phát triển: KN không phải là điểm xuất phát trong sự vận động của nhận thức mà còn là tổng kết của quá trình vận động đó, nó không chỉ là công cụ của tư duy mà còn là kết quả của quá trình tư duy. Nhận thức khoa học ngày 7 càng phát triển thì nội dung KN khoa học ngày rộng và mới.
* Phân loại khái niệm: Căn cứ vào các dấu hiệu của sự vật hiện tượng, người ta chia KN thành hai loại là KN cụ thể và KN trừu tượng. KN cụ thể là loại KN phải ánh các dấu hiệu của những sự vật hiện tượng, có thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan; được hình thành trên cơ sở quan sát, so sánh một nhóm tài liệu trực quan. KN trừu tượng là loại KN phản ánh các thuộc tính bản chất bên trong của các sự vật hiện tượng, không thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan mà phải qua sự phân tích của tư duy trừu tượng. Căn cứ vào đối tượng phản ánh, người ta chia KN thành 4 loại đó là KN sự vật, KN hiện tượng, KN quá trình, KN quan hệ [4].
* Sự hình thành khái niệm: Quá trình hình thành KN nói chung gồm các bước được thể hiện ở sơ đồ sau đây [11]: 1. Xác định nhiệm vụ nhận thức 2. Quan sát tài liệu trực quan 2. Dựa vào kiến thức đã có để (Vật thật, vật tượng hình …) hình thành KN mới.
Định nghĩa KN. Quy nạp Diễn dịch 3. Phân tích dấu hiệu chung 3. Cụ thể hóa KN và bản chất.
Định nghĩa KN. bằng một ví dụ 4. Đưa KN mới vào hệ thống KN đã có 5. Luyện tập, vận dụng KN Hình 1.
Sơ đồ các bước hình thành KN 8 Bước 1: Xác định nhiệm vụ nhận thức Muốn giúp HS lĩnh hội, chiếm lĩnh KN một cách tích cực, GV cần giúp HS xác định được nhiệm vụ nhận thức làm tăng sự hứng thú học tập của HS. Trong những trường hợp có thể, GV dẫn HS tới KN mới trong quá trình giải quyết một nhiệm vụ nhận thức nhất định thông qua việc tạo ra “tình huống có vấn đề”, nghĩa là có mâu thuẫn giữa việc lĩnh hội kiến thức mới với kiến thức đã có. Vấn đề đưa ra càng gần với thực tiễn đời sống càng có sức hấp dẫn và kích thích tư duy. Bước 2: Nhận biết một số dấu hiệu của KN Với những KN cụ thể, HS có thể nhận biết một số dấu hiệu của KN thông qua việc quan sát tài liệu trực quan (mẫu vật, tiêu bản, mô hình, tranh ảnh, thí nghiệm,…) dưới sự hướng dẫn của GV, hướng HS vào những dấu hiệu chủ yếu của KN.
Với những KN trừu tượng, HS có thể phải thông qua sự gợi ý của GV, GV có thể dựa vào một vài biểu tượng liên quan đã có ở HS hoặc có thể dựa vào một số KN khác đơn giản, cụ thể hơn để giúp HS nhận biết được dấu hiệu của KN trừu tượng. Bước 3: Phân tích dấu hiệu chung và dấu hiệu bản chất của KN GV có thể sử dụng những câu hỏi gợi ý; HS phải tiến hành các thao tác tư duy như phân tích, đối chiếu, so sánh (để tìm ra được dấu hiệu chung của nhóm sự vật, hiện tượng nghiên cứu) rồi trừu tượng hóa, khái quát hóa (để tìm ra dấu hiệu chung và bản chất của KN). Tùy mức độ cụ thể hay trừu tượng, đơn giản hay phức tạp của KN mà ở bước này có sự khái quát hóa cảm tính hay khái quát hóa khoa học, trừu tượng hóa kinh nghiệm hay trừu tượng hóa lý thuyết. Kết quả của bước này là định nghĩa KN.
Với các KN cụ thể, HS có thể sử dụng lối suy lý quy nạp. Đối với các KN trừu tượng, HS sử dụng các thao tác khái quát hóa khoa học, trừu tượng hóa lý thuyết. Bước 4: Đưa KN mới học vào hệ thống các KN đã có 9 Bất kỳ một sự kiện, hiện tượng nào trong thực tế cũng không cô lập mà nằm trong mối quan hệ với các sự kiện, hiện tượng khác. Vì vậy, những KN phản ánh chúng cũng có mối quan hệ với nhau, tạo thành một hệ thống.
Việc đưa KN vào hệ thống có thể tiến hành ngay khi dẫn tới KN bằng một trình tự trình bày hợp lý, hoặc ngay sau khi nắm được KN mới bằng cách so sánh với các KN có quan hệ lệ thuộc ngang hàng hoặc trái ngược nhau. Đối với một nhóm có nhiều KN có liên quan với nhau, việc hệ thống hóa có thể tiến hành vào cuối chương, dưới dạng bài tập hoặc trong giờ ôn tập trên lớp. Bước 5: Luyện tập và vận dụng KN Nắm vững KN có nghĩa là hiểu, nhớ và vận dụng được những KN và sử dụng nó để lĩnh hội những KN mới. Khi đã nắm vững thì mới giải quyết được những bài tập có tính chất lý thuyết và bài tập mang tính thực hành, hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn trong đời sống và sản xuất.
Để nâng cao hiệu quả của quá trình hình thành KN, GV cần vận dụng các bước một cách linh hoạt sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Với một số nội dung có thể tổ chức để HS hình dung tổng thể KN đã được học trong mối quan hệ với các KN sẽ được học sau đó mới làm rõ hơn các KN trong bài học hoặc chủ đề. Bằng cách này sẽ giúp HS chủ động hơn trong quá trình học tập, giúp GV dễ dàng xác định được các KN trọng tâm, nên trong giờ học GV có thể chỉ cần tổ chức dạy cho HS một số KN quan trọng (KN then chốt), các KN có liên quan còn lại buộc HS phải nỗ lực tự tìm hiểu, tự nghiên cứu, nhờ đó rèn luyện cho HS tính chủ động sáng tạo hơn trong học tập. * Sự phát triển của khái niệm: Nội dung của một KN phức tạp được phân tích ra nhiều yếu tố, nội dung của sự vật; hiện tượng phản ánh trong KN được khảo sát dần dần dưới nhiều khía cạnh mới.
Nội dung của KN được phân tích thành nhiều yếu tố, nhờ đó mà HS nắm KN một cách đầy đủ và chính xác. Trong một số trường hợp, vốn kiến thức của HS chưa đủ để nắm KN ở mức đầy đủ, GV phải hình thành KN ở dạng chưa đầy đủ (nhưng không được sai). Khi HS đã tích đủ vốn kiến thức nhất định, thì sẽ được học KN ở mức độ chính xác và đầy đủ hơn. Mỗi lần chuyển 10 sang một mục mới, một bài mới hay một chương mới HS lại được làm quen với những KN mới.
Các KN mới này không phủ định KN cũ mà nó làm sáng tỏ thêm KN cũ bằng cách chỉnh lý lại giới hạn của KN cũ [4], [11]. Bản đồ khái niệm 1. Định nghĩa Bản đồ khái niệm được phát triển từ năm 1972 trong chương trình nghiên cứu về khả năng tiếp cận các khái niệm cơ bản của khoa học của trẻ lớp 1 và lớp 2 và khám phá sự phát triển các khái niệm này ở những lớp học sau của Novak tại trường Đại học Cornell (Hoa kỳ). Việc ghi nhớ máy móc các khái niệm không giúp người học có khả năng liên kết những kiến thức đã biết.
Do đó, ông đánh giá cao khả năng ghi nhớ có ý nghĩa thông qua việc nắm hệ thống và cấu trúc của các khái niệm. Vì vậy, những nghiên cứu về bản đồ khái niệm và ứng dụng của nó trong dạy học giúp GV làm sáng tỏ các ý tưởng và đánh giá sự thông hiểu của HS về bản chất của các khái niệm đó [8]. Bản đồ khái niệm (Concept maps) là công cụ dạng sơ đồ, dùng để sắp xếp và trình bày kiến thức. Chúng bao gồm các KN và các từ (hoặc các cụm từ) liên kết chỉ mối quan hệ giữa các KN.
Các KN thường được đóng khung trong các hình tròn hay các hình chữ nhật, mối quan hệ giữa các KN được thể hiện dưới dạng đường nối giữa hai KN. Đường nối đại diện cho mối quan hệ giữa các KN, có gắn nhãn nhằm miêu tả rõ ràng hơn mối quan hệ đó. Nhãn thường là từ nối hay các cụm từ nối, định rõ mối quan hệ giữa hai KN [32]. Nói cách khác, bản đồ khái niệm là một sơ đồ mô tả mối quan hệ giữa các khái niệm, là công cụ dùng để sắp xếp và trình bày kiến thức theo một hệ thống.
Một bản đồ khái niệm thường được dùng để mô tả một ý tưởng bao trùm.