Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở trong nước Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh hiện nay là một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Đầu tiên là nghiên cứu của Phan Tất Đắc với cuốn “Dạy học nêu vấn đề” được dịch từ tác phẩm của tác giả Lecne.
Tác giả đã đưa ra bản chất của dạy học nêu vấn đề. Tác giả cũng khẳng định dạy học giải quyết vấn đề là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cao trong quá trình dạy học, kích thích hoạt động sáng tạo của học sinh. [5] Luận án tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu DH nêu vấn đề của tác giả Lê Văn Năm (2001), Sử dụng DH nêu vấn đề - Ơrixtic để nâng cao hiệu quả dạy chương trình Hóa đại cương và Hóa vô cơ ở trường THPT đã đưa ra một số yêu cầu khi sử dụng dạy học nêu vấn đề. Đồng thời tác giả nhấn mạnh vai trò của dạy học GQVĐ cho học sinh trong dạy học hóa học hiện nay.
Nghiên cứu “Sử dụng phương pháp dạy học nêu và GQVĐ nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua dạy học Hóa hữu cơ lớp 11 chương trình nâng cao THPT” - Luận án tiến sỹ của Hoàng Thị Thùy Dung (2011) đề cập tới những nội dung lý luận cơ bản của dạy học GQVĐ đồng thời tác giả cũng đề xuất một số biện pháp nhằm vận dụng phương pháp này vào trong quá trình dạy học để gây hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh. Tác giả Nguyễn Thanh Nhạn (2013), Lựa chọn, xây dựng và sử dụng bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 11 THPT, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đối với môn Vật Lí, PPDH phát hiện và GQVĐ cũng được các tác giả Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng đề cập đến trong cuốn sách: “Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học Vật Lí ở trường phổ thông” (1999). Theo đó, hoạt động GQVĐ thực chất là hoạt động nhận thức của HS trong học tập vì vậy các tác giả trình bày rất cụ thể tiến trình hướng dẫn HS GQVĐ dựa trên cơ sở sử dụng các phương pháp nhận thức trong dạy học Vật Lí.
Ngoài ra, trong cuốn sách: “Dạy học Vật Lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học” (2004) của tác giả 4 Phạm Hữu Tòng đã trình bày chiến lược dạy học GQVĐ được thể hiện qua việc tổ chức định hướng hành động tìm tòi sáng tạo GQVĐ và tư duy khoa học của học sinh. Một số nghiên cứu về việc dạy học nhằm phát triển năng lực GQVĐ thông qua việc đổi mới PPDH như: Nghiên cứu phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong tổ chức dạy học chương Các định luật bảo toàn - Vật Lí 10 của Hà Lan Anh. Tác giả Đàm Thị Hoàn nghiên cứu việc tổ chức dạy học chương “Điện tích. Điện trường” theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông”.
Tác giả Lê Đức Hậu nghiên cứu việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học chương Cảm ứng điện từ - Vật Lí 11 THPT. Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến nghiên cứu việc phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh khi dạy học một số kiến thức của chương “Mắt và các dụng cụ quang học” - Vật Lí 11 THPT. Có thể thấy, có nhiều tác giả quan tâm đến việc phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh hiện nay. Mỗi nghiên cứu đều đã đề cập tới những khía cạnh khác nhau của dạy học GQVĐ, đó là cơ sở, là tài liệu tham khảo để tác giả tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Nghiên cứu ở nước ngoài Từ những năm 70, các nhà sinh vật học A.Raicốp, các nhà sử học M.đã tổ chức cho học sinh vào quá trình hình thành, khám phá tri thức, phân tích các hiện tượng tri thức. Đây là một trong những cơ sở DH GQVĐ. Đến những năm 70 của thế kỉ XX, nhà lý luận học M.I Mackmutov đã đưa ra những những cơ sở lý luận của phương pháp dạy học GQVĐ. Ngoài ra còn có các nhà nghiên cứu khác cũng tìm hiểu về nội dung này như M.Tuy nhiên, những nghiên cứu của các tác giả này mới dừng lại ở những kết quả thực nghiệm thu được từ việc sử dụng PP, chưa xây dựng đầy đủ cơ sở lý luận cho phương pháp dạy học GQVĐ.
Sự ra đời của lý thuyết vùng phát triển của Vygotsky (1886 - 1938) và các lý thuyết học tập để tạo nên cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về PPDH GQVĐ và phát triển năng lực học sinh. Những lý thuyết này được nhiều nhà giáo dục quan tâm và vận dụng. Đó là cơ sở cho việc ra đời và tạo nên cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tích cực trong đó có dạy học GQVĐ. 5 Năm 1996, giáo sư tâm lý học của đại học Harvard đã phân tích bảy mặt của trí tuệ con người gồm: ngôn ngữ, logic toán học, âm nhạc, không gian, thể hình, giao cảm và nội cảm để qua đó đề cập đến khái niệm về năng lực.
Ông cho rằng: “mỗi mặt biểu hiện của trí tuệ đều phải được bộc lộ hoặc thể hiện dưới dạng sơ đẳng hoặc sáng tạo đỉnh cao. Để giải quyết một vấn đề “có thực” trong cuộc sống con người không phải chỉ huy động duy nhất một mặt của biểu hiện trí tuệ nào đó mà phải kết hợp nhiều mặt biểu hiện của trí tuệ liên quan đến nhau. Sự kết hợp này tạo thành năng lực cá nhân, từ đó ông đã kết luận rằng: Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được”. Trong cuốn sách “Các phương pháp dạy học hiệu quả” (2011) của tác giả Robert Jmarzano, Debra Jpikering, Jane EPollock, do dịch giả Nguyễn Hồng Vân dịch có cho rằng: “GV là nhân tố quan trọng, cần có tầm nhìn trong việc lựa chọn và áp dụng các PPDH thích hợp để phát huy cao độ được khả năng học tập của HS.
Ngoài ra, tác giả còn đặc biệt coi trọng phương pháp tạo và kiểm định các giả thuyết để đề ra được những giải pháp khác nhau nhằm giúp HS phát triển năng lực GQVĐ”. [25] Thomas Amstrong trong “Đa trí tuệ trong lớp học” (2011) do dịch giả Lê Quang Long dịch có đưa ra tám loại trí tuệ tiềm ẩn trong con người nên để phát huy một cách tốt nhất những giá trị tiềm năng đa dạng của HS, khơi gợi sáng tạo và phát triển những năng lực chủ chốt như: năng lực hợp tác, năng lực GQVĐ thì người GV cần phải sáng tạo trong quá trình dạy học của mình. [27] Trong của tác giả Glselleo Martin, Kniep, (2011), “Tám đổi mới để trở thành giáo viên giỏi” do dịch giả Lê Văn Can dịch khẳng định rằng: Muốn trở thành người GV giỏi thì GV đó cần phải có những đổi mới nhằm tập trung vào các câu hỏi cốt lõi buộc cho HS phải tự khám phá vấn đề theo chiều sâu, từ đó giúp HS rèn luyện được những kĩ năng cần thiết trong việc phát hiện và GQVĐ. Khái niệm năng lực Năng lực là khái niệm được nhiều tác giả cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm, họ đưa ra những ý kiến khác nhau về năng lực như: Theo Nguyễn Huy Tú: “Năng lực tự nhiên là loại năng lực được nảy sinh trên cơ sở những tư chất bẩm sinh di truyền, không cần đến tác động của giáo dục và đào tạo.
Nó cho phép con người giải quyết được những yêu cầu tối thiểu, quen thuộc đặt ra cho mình trong cuộc sống”. [18] 6 Nhấn mạnh đến tính mục đích và nhân cách của năng lực, Phạm Minh Hạc đưa ra định nghĩa: “Năng lực chính là một tổ hợp các đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy”. Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm năng lực theo chương trình GDPT tổng thể của Việt Nam (2018): “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.
Dạy học phát triển năng lực Mục tiêu dạy học. Định hướng phát triển năng lực là đảm bảo hướng tới phát triển năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kỹ năng, kiến thức cơ bản, hiện đại và thiết thực; giáo dục hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng vào việc thực hành, vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã được trang bị trong quá trình học tập để giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống hàng ngày; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên. Thông qua hình thức tổ chức giáo dục và các phương pháp giáo dục, phát huy tiềm năng và tính chủ động của mỗi học sinh. Đồng thời có những phương pháp đánh giá phù hợp giá phù hợp với mục tiêu giáo dục đặt ra.
Phát triển năng lực trong dạy học Vật lí là sự tích hợp hài hòa, linh hoạt các kiến thức, kỹ năng mà cá nhân có hoặc có thể tiếp thu để giải quyết thành công, có trách nhiệm các vấn đề cụ thể trong các tình huống khác nhau với sự nhanh nhạy về động cơ và ý chí. Để giúp người học không chỉ có kiến thức vật lí mà cần có cả kiến thức liên ngành và kiến thức thực tiễn; không chỉ có thái độ đúng với môn học vật lí mà còn đòi hỏi thấy được giá trị của việc học, giáo viên cần thực hiện các phương pháp dạy học linh hoạt trong quá trình dạy học, thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập một cách chủ động học sinh sẽ đồng thời có được các năng lực cần thiết. Tổ chức dạy học.