Chương 1, chúng tôi làm rõ các khái niệm về thang nhận thức Bloom và phương thức vận dụng Bloom vào lĩnh vực giáo dục của các nhà nghiên cứu, vai trò và tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá, mối tương quan giữa Bloom và Thông tư 22 của Bộ Giáo dục và đào tạo quy định đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học. Chương 2 dành cho việc phân tích cách trình bày các kiến thức về chủ đề hình học và các bài tập tính chu vi và diện tích trong sách giáo khoa lớp 4, lớp 5. Chương 3 tập trung nghiên cứu việc vận dụng thang đánh giá Bloom với TT22 vào việc xây dựng các bài tập tính chu vi và diện tích cho học sinh tiểu học. Chương 4, chương cuối cùng của luận văn nhằm mục đích xem xét tính khả thi của các bài tập, tình huống được thiết kế.
Tổng quan về thang phân loại tư duy của Bloom 1. Thang phân loại tư duy của Bloom Trong những năm gần đây, các nhà giáo dục đã đề cập đến việc vận dụng thang đánh giá Bloom và cách phân loại Bloom vào việc xác định các mức độ nhận thức của học sinh trong giảng dạy ở các trường phổ thông. Thang đo nhận thức của Bloom phân loại tư duy theo những mục tiêu giáo dục về lĩnh vực nhận thức và kĩ năng, trong đó mô tả về tư duy gồm 6 mức độ đã được chấp nhận rộng rãi và được sử dụng trong hầu hết tất cả các lĩnh vực cho tới ngày nay. Phân loại tư duy của Bloom (1956) theo mục tiêu giáo dục Mức độ nhận Khái niệm Từ khoá thức/Kĩ năng Xác định, miêu tả, gọi tên, Biết Nhắc, nhớ lại thông tin phân loại, nhận biết, mô phỏng, làm theo.
Tóm tắt lại, biện hộ, giải Hiểu Hiểu ý nghĩa, diễn giải khái thích, lĩnh hội, lấy ví dụ. Sử dụng thông tin hay khái Thiết lập, thực hiện, tạo dựng, Vận dụng niệm trong tình huống mới mô phỏng Chia nhỏ thông tin và khái So sánh, đối chiếu, phân chia, Phân tích niệm thành những phần nhỏ phân biệt, lựa chọn, phân để hiểu đầy đủ tách. Ghép các ý với nhau để tạo Phân loại, khái quát hoá, cấu Tổng hợp nên những nội dung mới trúc lại Đánh giá, phê bình, phán Đánh giá Đánh giá chất lượng đoán, chứng minh, tranh luận, biện hộ. 10 Các mức độ nhận thức được sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ những yêu cầu dễ nhất đến những yêu cầu phức tạp nhất.
Tuy nhiên ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh, cũng như cách thức dạy học của giáo viên dần phát triển. Vì thế, các nhà giáo dục cho rằng phương pháp phân loại tư duy của Bloom (1956) không còn phù hợp nữa bởi vì dạy học còn chứa đựng nhiều hơn là phát triển tư duy mà đó còn là tình cảm, lòng tin cũng như môi trường văn hoá và xã hội trong lớp học. Giống như bất cứ mô hình lí thuyết nào, bảng phân loại tư duy của Bloom cũng có những mặt mạnh và những mặt hạn chế. Điểm mạnh của nó là đề cập đến tư duy và đề ra một cấu trúc bậc thang tư duy rất tiện lợi để giáo viên có thể áp dụng.
Khi sử dụng bảng phân loại của Bloom, giáo viên thường có một hệ thống các câu hỏi gợi ý tương quan đến những mức độ khác nhau. Trong đó, việc khuyến khích học sinh sử dụng tư duy bậc cao được thường xuyên và liên tục. Tuy nhiên, rất nhiều thao tác, hoạt động không thể được sắp xếp trong Thang phân loại tư duy và những nỗ lực thực hiện điều đó chỉ mang tích gượng gạo, hình thức, điều đó làm giảm thế mạnh của các cơ hội học tập. Vào cuối thập niên 90, Bloom và học trò của mình là Tiến sĩ Lorin Anderson cùng những đồng nghiệp đã xuất bản phiên bản mới được cập nhật về Phân loại tư duy của Bloom (1956).
Nhóm nghiên cứu quan tâm đến những nhân tố ảnh hưởng tới việc dạy và học trong phạm vi rộng lớn. Phiên bản Phân loại tư duy Bloom mới này phân biệt “biết cái gì?” – nội dung của tư duy với “biết như thế nào?” – tiến trình được sử dụng để giải quyết vấn đề. Định lượng kiến thức được tính bằng “biết điều gì?” Có bốn phạm trù: thực tế, khái niệm, tiến trình, và siêu nhận thức. Kiến thức bao gồm những thuật toán, phương pháp giải quyết vấn đề bằng rút kinh nghiệm (hay dựa trên kinh nghiệm), công nghệ và những phương pháp cũng như những kiến thức về việc khi nào chúng ta nên sử dụng tiến trình này.
Kiến thức siêu nhận thức là 11 những kiến thức trong quá trình tư duy và những thông tin về cách vận dụng quá trình này một cách hiệu quả. Phiên bản Phân loại tư duy mới này cũng như phiên bản gốc đều có 6 kĩ năng, chúng được sắp xếp theo mức độ đơn giản nhất đến phức tạp nhất: Bảng 1. Bảng phân loại tư duy của Bloom (phiên bản mới) Mức độ nhận Khái niệm Từ khoá thức/ kĩ năng Biết Nhận biết, hồi tưởng Nhận biết, kể tên, tìm kiếm, ghi những thông tin lại, viết lại,… Hiểu Diễn đạt lại, diễn giải, Giải thích, tìm ví dụ minh hoạ, tìm ví dụ minh hoạ, phân loại, tóm tắt, so sánh, liệt phân loại, tóm lược, so kê,… sánh, giải thích. Vận dụng Sử dụng những gì đã Thực hiện, làm thí nghiệm, thực học trong tình huống hành,… tương tự Phân tích Chia nhỏ kiến thức, chỉ Phân biệt, vẽ sơ đồ, sắp xếp, liệt ra sự khác nhau và tìm kê, … ra mối quan hệ của chúng, tổ chức và tổng hợp.
Đánh giá Kiểm tra, phê bình Phán đoán, xem lại, lựa chọn, thử lại,… Sáng tạo Tạo ra những cái mới từ Thiết kế, tái tạo, lập kế hoạch, những cái đã biết, lập kế đề xuất,… hoạch và thực hiện. 12 Theo bảng phân loại tư duy này, mỗi cấp độ kiến thức có thể tương đương với mỗi cấp độ của quá trình nhận thức. Vì vậy một học sinh có thể nhớ được những kiến thức về sự kiện hoặc những kiến thức tiến trình, hiểu được những kiến thức khái niệm hoặc siêu nhận thức. Người học cũng có thể phân tích những kiến thức siêu nhận thức hoặc những kiến thức sự kiện.
Theo Anderson và những cộng sự, “Học tập có ý nghĩa cung cấp cho học sinh kiến thức và quá trình nhận thức mà các em cần để giải quyết được vấn đề” (Nguyễn Quang Thuấn, 2016). Vận dụng thang phân loại tư duy Bloom vào dạy học ở nước ta Thang phân loại Bloom được ứng dụng nhiều vào giáo dục cũng như nội dung giáo dục Việt Nam. Quan điểm của Bloom trong giáo dục hiện đại có vị trí quan trọng. Đặc biệt, quan điểm về các cấp độ nhận thức của Bloom đã có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất lớn trong giáo dục.
Do đó, cơ sở lí thuyết về cấp độ nhận thức của Bloom được nhiều tác giả vận dụng vào những bài viết, những công trình nghiên cứu khoa học giáo dục của mình. Trong đó, tác giả Nguyễn Thị Thuý (2016) đã vận dụng các mức độ nhận thức Bloom vào xây dựng hệ thống câu hỏi trong dạy học đọc hiểu văn bản. Cũng trong đề tài, tác giả đã nêu ra các dạng câu hỏi được phân loại theo các mức độ tư duy của Bloom, cụ thể dạng câu hỏi nhận biết, phát hiện; dạng câu hỏi phân tích, lí giải; dạng câu hỏi đánh giá, phản hồi văn bản. Theo Đỗ Đường Hiếu (2008) việc xây dựng mục tiêu dạy học dựa trên sự phân loại mục tiêu dạy học của Bloom giúp cho việc xác định mục tiêu dạy học được cụ thể và do vậy sẽ hữu ích cho công tác dạy học.
Tuy nhiên, điều khó khăn của việc vận dụng thang đo nhận thức Bloom vào công tác giảng dạy nằm ở ngay từng môn học. Trong một số môn học, Toán và Khoa học chẳng hạn, chúng ta rất dễ hướng dẫn học sinh áp dụng đến các mức phân tích và tổng hợp, nhưng đối với các môn Lịch sử thì khó khăn hơn và ngược lại. Đó là những khó khăn và thách thức mà nhà giáo phải tìm ra 13 cách thức để nâng cao bài giảng của mình. Vì thế nào đa số nhà giáo, đặc biệt là ở Việt Nam chọn cách giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho học sinh và nhận lại kiến thức từ học sinh chỉ ở mức 1, mức 2 mà thôi.
Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học 1. Các khái niệm Thuật ngữ kiểm tra (test), đánh giá (assessement) và định giá (evaluation) thường được sử dụng theo cách hoán đổi nhau, mặc dù “trắc nghiệm nhiều lựa chọn” luôn được đi cùng với bài kiểm tra và sự thể hiện (performance) đi cặp với đánh giá. Những câu hỏi nhiều lựa chọn riêng lẻ được gọi là mục (items), còn những thể hiện riêng lẻ được gọi là nhiệm vụ (tasks). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu của Dikil và Manitoba Education cho thấy nội hàm của thuật ngữ đánh giá, định giá và kiểm tra khác nhau một cách đáng kể (Hoàng Thị Tuyết, et al.
Kiểm tra thường trang trọng và được chuẩn hoá với những quy trình chính xác để quản lí kết quả học tập và cho điểm. Kiểm tra có thể định nghĩa như là một bài tập có quy định thời gian, vô hướng và chỉ một dịp thể hiện. Công cụ kiểm tra chuẩn hoá được sử dụng rộng rãi nhất là trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm đúng sai, trả lời ngắn, điền khuyết và tự luận. Về mục đích, kiểm tra dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh và người tổ chức kiểm tra hi vọng rằng kết quả của các bài kiểm tra cho phép họ suy luận được sự nắm vững lĩnh vực kiến thức đã học.
Trong một thời gian dài, các chương trình giáo dục trong bối cảnh nhà trường, ngay cả Việt Nam đã đo lường kết quả học tập của người học chủ yếu bằng kiểm tra chuẩn hoá. Tuy nhiên, kiểm tra thường tập trung vào ghi nhớ và tái hiện vốn kĩ năng nhận thức thấp. Kết quả từ kiểm tra đo lường điều học sinh làm được trong một thời gian cụ thể nhưng không cung cấp phản hồi đến người học, không cho thấy những tiến bộ cũng như những khó khăn 14 trong học tập của học sinh. Ngày nay, kiểm tra chỉ được xem là một phần của đánh giá mà thôi.
Định giá được xem là một cặp bài trùng với kiểm tra chuẩn hoá.