Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC NGHIỆM CỦA HỌC SINH THÔNG QUA SỬ DỤNG BÀI TẬP THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC 1. Cơ sở lí luận về phát triển năng lực thực nghiệm. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực. “Sự phát triển của xã hội hiện đại đòi hỏi giáo dục phổ thông nước ta cần chuyển từ chỗ quan tâm xem HS học được cái gì, học chỉ để nhớ và thuộc kiến thức tạm thời để đi thi, sang việc quan tâm xem HS vận dụng được gì vào cuộc sống thông qua việc học.
Việc DH thay vì chỉ dừng ở mục tiêu DH hình thành các kiến thức đơn môn, kĩ năng giải toán gắn với nội dung môn học còn cần hướng tới mục tiêu xa hơn là trên cơ sở kiến thức, kĩ năng đã được hình thành, phát triển khả năng thực hiện các hành động có ý nghĩa và thiết thực trong cuộc sống. Việc đổi mới DH định hướng năng lực được thể hiện rõ trong việc xác định lại các thành tố của quá trình DH như: mục tiêu DH, phương pháp DH, nội dung DH và kiểm tra đánh giá” [6]. Mục tiêu dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực. “Theo tài liệu tập huấn GV THPT 2014 [10], môn Vật lí đóng góp một phần quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của Giáo dục Phổ thông.
Trong quá trình học tập Vật lí, với các phương pháp và các hình thức tổ chức DH khác nhau, HS vừa chiếm lĩnh kiến thức vật lí, vừa phát triển các phẩm chất và năng lực, bao gồm: - Hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản của Vật lí học (các khái niệm, các định luật, các thuyết vật lí và những ứng dụng kĩ thuật điển hình) - Những phương pháp nhận thức điển hình trong nghiên cứu Vật lí (Phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình.) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn - Những kĩ năng, kĩ xảo quan trọng, cơ bản khi thực hiện các hoạt động cả trí óc và chân tay (tổng hợp, phân tích, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, xây dựng phương án, chế tạo, lắp ráp, tiến hành TN, đánh giá kết quả TN, xây dựng báo cáo sản phẩm.) - Phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, hình thành thái độ, cách thức sống hợp lí trong tự nhiên và xã hội. - Phát triển năng lực hoạt động, cách thức thực hiện các nhiệm vụ trong cuộc sống trên cơ sở hệ thống kiến thức, phương pháp làm việc. Phương pháp dạy học. “Quan điểm của chương trình giáo dục THPT tổng thể [5] đã được thông qua xác định rõ về phương pháp và hình thức tổ chức DH nhằm đạt được mục tiêu giáo dục: Những quan điểm chính: - Đổi mới phương pháp DH sao cho HS là trung tâm của quá trình.
HS tự xác định vấn đề, lựa chọn các giải pháp và thực hiện giải pháp, tự xác định các ứng dụng hợp lí vào cuộc sống bằng các cách thức khác nhau trong môi trường học tập thân thiện mà GV là người giúp đỡ, động viên, chia sẻ. - Sử dụng các kiểu tổ chức DH hiện đại tạo môi trường học tập tích cực. Xây dựng môi trường giáo dục kết hợp gia đình, nhà trường và xã hội. Nội dung dạy học.
Xây dựng tình huống học tập có thể thu hút được sự quan tâm của HS dựa vào các hoạt động ở trong đời sống. Từ đó HS sẽ cần đặt ra những câu hỏi, tìm hiểu sự việc, hiện tượng. HS sẽ được GV hướng dẫn để thực hiện các vấn đề nghiên cứu. Cuối cùng HS sẽ vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống thật hiệu quả.
Qua đó, năng lực của HS được hình thành. Kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực. “Những quan điểm cơ bản để đổi mới về kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn vật lí theo định hướng phát triển năng lực [4] cần thực hiện gồm: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn - Kết quả học tập của HS thể hiện mức độ đạt được của các mục tiêu DH. - Việc đánh giá kết quả học tập của HS nhằm điều chỉnh quá trình DH, HS tự điều chỉnh việc học tập và nhằm xác nhận trình độ học tập của HS.
- Việc đánh giá cần thực hiện theo quá trình học tập, dựa trên các sản phẩm hoạt động của HS, căn cứ theo hồ sơ học tập trong suốt quá trình thực hiện các chủ đề DH. Năng lực thực nghiệm trong dạy học vật lí. “Theo [7], năng lực là khả năng cá nhân có thể sử dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ của mình một cách linh hoạt, có tổ chức và thực hiện tác động một cách tự nhiên, trong những tình huống cụ thể để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra với tinh thần trách nhiệm cao và thực hiện thành công nhiệm vụ đó. Khái niệm năng lực thực nghiệm trong dạy học Vật lí.
Khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để áp dụng vào giải quyết các vấn đề cần nghiên cứu liên quan đến lí thuyết và thực nghiệm là năng lực thực nghiệm trong DH vật lí. Năng lực thực nghiệm trong DH Vật lí là năng lực chuyên biệt của bộ môn Vật lí. HS cần vận dụng các kiến thức lí thuyết đã được học vào các hoạt động thực nghiệm để khái quát vấn đề, đánh giá và giải thích các vấn đề cần nghiên cứu. Các năng lực thành phần của năng lực thực nghiệm.
“Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu [1] cho thấy, năng lực thực nghiệm gồm những năng lực thành phần sau: - Phát hiện được vấn đề cần giải quyết và đưa ra được những dự đoán, giả thuyết. - Thiết kế các phương án TN. - Lựa chọn hoặc chế tạo được dụng cụ TN, tiến hành TN theo phương án đã thiết kế. - Xử lí và trình bày kết quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn - Đưa ra được những nhận xét, đánh giá quá trình thực hiện hay đánh giá kết quả để rút ra các kết luận.” Các thành tố của năng lực thực nghiệm có thể được xem xét với các mức độ như bảng 1.1: Các năng lực thành phần của năng lực thực nghiệm. Mức độ điểm) 4 3 2 1 0 Tiêu chí Phát hiện Phát hiện Phát hiện Phát hiện Chưa phát Không vấn đề đúng vấn đề đúng vấn đề đúng vấn đề hiện ra vấn nhìn ra mâu và diễn đạt và diễn đạt và diễn đạt đề và nhờ thuẫn hay bằng câu hỏi bằng câu hỏi bằng câu hỏi GV thì HS vấn đề cần gọn, khái còn rườm rà còn rườm rà mới diễn đạt giải quyết dù quát đúng hoặc lý giải các lý giải bằng câu hỏi GV có giải đắn; đưa ra lúng túng lúng túng, còn rườm rà thích, gợi được các căn chưa rõ hoặc lý giải mở. cứu cho việc lúng túng lựa chọn Quá Lựa chọn Lựa chọn Lựa chọn Hầu như Không tham trình được các chi được các chi thiếu một số chưa chọn gia hoạt động xây tiết của thiết tiết nhưng chi tiết, vẽ được các chi hoặc không dựng bị; vẽ cách việc vẽ cách cách bố trí tiết và chưa thực hiện phương bố trí thí bố trí thí thí nghiệm và vẽ cách bố trí được yêu cầu án thí nghiệm và đề nghiệm và đề lên kế hoạch thí nghiệm, nào. nghiệm ra kế hoạch ra kế hoạch tiến hành không đề ra tiến hành hợp tiến hành chưa hợp lí.
kế hoạch tiến lí. hành hợp lí Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc.vn Mức độ điểm) 4 3 2 1 0 Tiêu chí 2. Hoạt Tự lựa chọn Lựa chọn và Còn lúng Cần nhiều sự Không lắp động lựa và lắp ráp lắp ráp (hoặc túng mất hỗ trợ để lắp ráp được như chọn, chế (hoặc chế chế tạo) thí nhiều thời ráp được thiết kế, yêu tạo, lắp tạo) thiết bị nghiệm gần gian khi lắp thiết bị và cầu thực hiện ráp thiết thí nghiệm theo theo ráp (hoặc chế vận hành. bị hợp lí theo thiết kế, còn tạo) thiết bị thiết kế, khó khăn khi vận hành thuận tiện tiến hành.
cho việc tiến hành. Tiến Tự thực hiện Tự thực hiện Thực hiện Cần có sự Không thể hành thí được thí được thí được thí hướng dẫn thực hiện nghiệm nghiệm theo nghiệm nghiệm và theo mẫu thì được thí thu thập kế hoạch và nhưng còn có thu thập mới thực nghiệm dù đã kết quả thu được các lỗi về vận được số liệu hiện được thí có chỉ dẫn và xử lí số liệu hợp lí. hành và thu nhưng cần hỗ nghiệm và số liệu thập số liệu. trợ của giáo thu thập viên.
được số liệu. Khái Tự khái quát Cần gợi ý để Cần hướng Cần hướng Hướng dẫn quát kết kết quả để rút rút ra được dẫn xem xét dẫn cụ thể nhưng vẫn quả và ra được nhận nhận xét, khái quát với số liệu không nhận rút ra xét, đánh giá đánh giá so mới rút ra thực nghiệm ra được mối nhận xét so với kết với kết quả lí được nhận để rút ra quan hệ gì từ và báo quả lí thuyết thuyết xét, đánh giá được một bảng số liệu cáo kết so với kết nhận xét quả quả lí thuyết Nguồn: [9] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên http://lrc. Bài tập thí nghiệm trong dạy học vật lí theo định hướng năng lực. Khái niệm và phân loại BTTN.
Khái niệm BTTN. - Theo Nguyễn Đức Thâm [15], bài tập thí nghiệm về cơ bản là phải làm thí nghiệm để đo đạc một đại lượng hoặc khảo sát một quá trình vật lí. - Theo Nguyễn Thượng Chung [6], bài tập thí nghiệm là loại bài tập đòi hỏi cả lí thuyết và thực nghiệm, cả trí óc và tay chân…để thực hiện nhiệm vụ đặt ra. Phân loại BTTN.
Dựa vào tính chất của bài tập chia BTTN thành 2 loại: BTTN định tính và BTTN định lượng. a, BTTN định tính. Khi giải BTTN định tính HS không cần thực hiện phép tính toán phức tạp, không cần thực hành TN lấy số liệu mà chỉ cần suy nghĩ đưa ra các lập luận. Để giải BTTN định tính HS cần thực hiện những phép suy luận logic dựa trên những khái niệm, quy luật, định luật và các quan sát thu được trong phòng TN qua đó sẽ phát triển tư duy của HS.
Việc giải BTTN định tính giúp HS hiểu rõ bản chất hiện tượng, quy luật vật lí. BTTN định tính có thể chia làm hai loại.